Việc thu hút nguồn lực đầu tư cho tăng trưởng xanh tại Việt Nam chưa đạt kỳ vọng
Nhiều tổ chức khoa học trên thế giới đã đánh giá, Việt Nam là một trong những quốc gia dễ bị tổn thương do quá trình biến đổi khí hậu, bao gồm một số hiện tượng tiêu cực như vấn đề nóng lên toàn cầu, ô nhiễm môi trường và sự suy thoái tài nguyên thiên nhiên.
Theo chuyên gia của GIZ, việc thu hút nguồn lực đầu tư cho tăng trưởng xanh tại Việt Nam chưa đạt kỳ vọng.
Theo một báo cáo nghiên cứu của Bộ Tài nguyên và Môi trường, đến cuối thế kỷ 21, sự gia tăng 1m của mực nước biển có thể gây ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống và sinh kế của khoảng 20% dân số và tổn thất có thể lên tới 10% GDP mỗi năm.
Trước những ảnh hưởng của quá trình biến đổi khí hậu, trong Nghị quyết 10-NQ/TW, và Chiến lược Quốc gia về Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Chiến lược tăng trưởng xanh, Việt Nam cam kết giảm phát thải khí nhà kính và đưa ra nhiều giải pháp tăng trưởng xanh, phát triển kinh tế xanh.
Tại Hội thảo về Nâng cao vai trò của đầu tư tư nhân đối với tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 – 2030, vừa được tổ chức sáng nay (3/11) tại Hà Nội, TS Michael Krakowski, Cố vấn trưởng của Chương trình cải cách kinh tế vĩ mô, tăng trưởng xanh (GIZ) nhận định: Việc thu hút nguồn lực đầu tư cho tăng trưởng xanh tại Việt Nam chưa đạt kỳ vọng.
“Hiện tại, khó khăn lớn nhất của quá trình tăng trưởng xanh là nguồn vốn, và các vấn đề liên quan tới chính sách tài chính, tài khóa”, TS Michael Krakowski cho biết.
Trong khi đó, TS Hồ Công Hòa, đại diện Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) cho rằng, quá trình tăng trưởng xanh, kinh tế xanh phải đang rất cần sự vào cuộc của các doanh nghiệp đầu tư tư nhân.
Trong đó, Việt Nam cần huy động nguồn lực của doanh nghiệp tư nhân vào các ngành năng lượng tái tạo, điện gió, điện mặt trời, điện sinh khối và các dịch vụ môi trường, như cấp, thoát nước, xử lý nước thải, thu gom, xử lý chất thải rắn, tái chế phế liệu và dịch vụ môi trường khác.
Bên cạnh đó, TS Hồ Công Hòa nhận định: Chính sách huy động nguồn lực cho tăng trưởng xanh ở Việt Nam, bao gồm các chính sách thu hút đầu tư tư nhân cho năng lượng tái tạo, thu gom và xử lý, tái chế chất thải rắn, cấp nước, thoát nước và xử lý nước thải.
Qua nghiên cứu của CIEM, ông Hòa cho rằng, vai trò của doanh nghiệp ngoài nhà nước trong lĩnh vực tăng trưởng xanh ngày càng quan trọng, lớn về số lượng, nhưng quy mô còn rất khiêm tốn.
Giai đoạn 2010-2019 số lượng doanh nghiệp ngoài nhà nước tham gia đầu tư vào lĩnh vực năng lượng và môi trường tăng mạnh, đặc biệt là đầu tư vào sản xuất năng lượng tái tạo, nước sạch, dịch vụ thu gom và xử lý nước thải, chất thải rắn.
“Tuy nhiên, doanh thu của doanh nghiệp ngoài nhà nước không tương xứng với số lượng doanh nghiệp trong ngành, đặc biệt là trong lĩnh vực năng lượng”, TS Hồ Công Hòa nói.
8 giải pháp tăng trưởng xanh
Để thu hút mọi nguồn lực đầu tư tư nhân tham gia đầu tư cho tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030 nói chung, lĩnh vực năng lượng tái tạo, dịch vụ môi trường nói riêng, chuyên gia của CIEM nhấn mạnh, Việt Nam cần thực hiện đồng bộ các giải pháp tạo dựng môi trường đầu tư hấp dẫn, nâng cao chất lượng khung pháp lý và năng lực thực hiện hiệu quả trong thực hiện chính sách.
CIEM kiến nghị, cơ quan quản lý Nhà nước nên nghiên cứu nâng mức phí bảo vệ môi trường nước thải, nhằm tạo tiền để cho tăng trưởng xanh, kinh tế xanh.
Thứ nhất, đẩy mạnh thể chế hóa quan điểm của Đảng về các định hướng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội gắn liền với công tác bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển kinh tế tư nhân;
Thứ hai, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực năng lượng và môi trường, từng bước tạo dựng thị trường năng lượng đầy đủ theo cơ chế thị trường; đảm bảo thông thoáng, minh bạch, công bằng giữa mọi thành phần kinh tế.
Áp dụng các công cụ kinh tế như phát triển ngân hàng xanh, tín dụng xanh giúp các doanh nghiệp tiếp cận được các nguồn tài chính xanh; thúc đẩy quá trình triển khai chính sách mua sắm công xanh; nghiên cứu khả năng áp dụng thuế các-bon theo lộ trình phù hợp nhằm định hướng sản xuất kinh doanh và tiêu dùng của xã hội trong tương lai;
Thứ ba, thống nhất quan điểm xây dựng một hành lang pháp lý, cơ chế chính sách vừa bắt buộc, vừa khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư cho tăng trưởng xanh, thực thi trách nhiệm xã hội đối với môi trường, tăng trưởng xanh, phát triển bền vững.
Thứ tư, nghiên cứu ban hành các cơ chế thí điểm triển khai các dự án PPP, như thu gom và xử lý chất thải, cấp nước sạch,… có quy mô nhỏ hơn 200 tỷ đồng ở các vùng nông thôn, đô thị nhỏ làm cơ sở cho việc điều chỉnh bổ sung Luật PPP;
Thứ năm, nâng cao trách nhiệm người gây ô nhiễm phải trả tiền, ví dụ nâng mức phí bảo vệ môi trường nước thải hiện nay (10% giá nước sạch), đẩy nhanh thu phí rác thải sinh hoạt theo khối lượng tạo sự công bằng theo đúng tinh thần của Luật Bảo vệ môi trường;
Thứ sáu, đẩy nhanh chương trình cải cách hành chính, đổi mới hình thức lập kế hoạch theo kế hoạch trung và dài hạn, đẩy nhanh chương trình cổ phần hóa DNNN, sớm ban hành các hướng dẫn về cơ chế mua bán nợ, đặc biệt là hướng đẫn cụ thể về định giá, đấu thầu, đấu giá các khoản nợ để bán, và mở rộng thị trường mua bán nợ cho các công ty ngoài nhà nước.
Thứ bảy, đẩy mạnh công tác đào tạo chuyên môn, đặc biệt là kỹ năng thẩm định, đàm phán hợp đồng dự án PPP cho các bộ ngành và địa phương. Xây dựng các chương trình truyền thông nâng cao nhận thức về PPP cho toàn xã hội về vai trò của người dân trong việc chia sẻ gánh nặng tài chính cho dịch vụ chất thải với nhà nước.
Cuối cùng, ông Hòa nhấn mạnh, cần công khai các quy hoạch năng lượng, ngành nước thải và chất thải rắn, bao gồm các dự báo lượng thải, hệ thống đấu nối, và các vấn đề liên quan khác nữa.