Gia đình nghệ nhân 4 đời giữ lửa cho nghề làm nón

(CLO) Say mê với nghề làm nón cùng với nỗi đắn đo và trăn trở với việc giữ nghề, nghệ nhân Lê Xuân Đạt ở làng Chuông, xã Phương Trung, huyện Thanh Oai, Hà Nội không chỉ giữ lại giá trị văn hóa truyền thống của nón lá, mà còn góp phần đưa nón làng Chuông đến với bạn bè khắp năm châu.
Mặc dù tuổi đã cao nhưng nghệ nhân Lê Xuân Đạt vẫn thoăn thoắt từng đường kim mũi chỉ. Ảnh Trần Toản.

Mặc dù tuổi đã cao nhưng nghệ nhân Lê Xuân Đạt vẫn thoăn thoắt từng đường kim mũi chỉ. Ảnh Trần Toản.

Trăn trở hồi sinh nghề truyền thống

Cùng với sự phát triển của xã hội, ngày nay nhiều làng nghề truyền thống không còn giữ được vẻ đẹp vốn có của nó, bị phai mờ theo năm tháng. Nghề làm nón ở làng Chuông cũng nằm trong thực trạng chung đó.

Về với làng Chuông hôm nay tuy số người làm nón trong làng không còn nhiều như xưa, nhưng với tình yêu dành cho quê hương và niềm tự hào về một làng nghề truyền thống cổ của Việt Nam, những người nghệ nhân nơi đây vẫn đang ngày ngày cần mẫn, tỉ mỉ làm nên những chiếc nón mang đậm nét đẹp hồn quê, lưu giữ nét đẹp truyền thống của quê hương.

Trong số đó, nghệ nhân Lê Xuân Đạt (69 tuổi), dưới đôi bàn tay tài hoa, ngày ngày ông vẫn ngồi tỉ mẩn chắp nối từng vành tre mỏng mảnh, uốn thành khuôn nón, là từng cọng lá, khâu từng mũi kim…

Những công việc tưởng chừng nghe rất đơn giản nhưng chứa đựng trong đó là những nỗi niềm đam mê, tâm tư trăn trở của người làng nghề.

Hành trình làm " sống lại ” nghề làm nón cổ của ông thật không đơn giản. Nhận thấy, nghề làm nón của làng đang ngày càng mai một, nghệ nhân Đạt quyết định gìn giữ nghề làm nón bằng những cách của riêng mình.

Trong số các loại nón của làng, ông tập trung vào việc gìn giữ chiếc nón quai thao bởi trong làng hiện nay còn rất ít người làm loại nón lá này.

Sản phẩm nón quai thao do gia đình nghệ nhân Lê Xuân Đạt làm được khách hàng khắp nơi ưa chuộng. Ảnh Trần Toản.

Sản phẩm nón quai thao do gia đình nghệ nhân Lê Xuân Đạt làm được khách hàng khắp nơi ưa chuộng. Ảnh Trần Toản.

Theo nghệ nhân Lê Xuân Đạt, làm nón quai thao đòi hỏi cầu kỳ và mất nhiều thời gian hơn so với làm các loại nón lá khác.

Một chiếc nón quai thao cổ thường phải ghép bằng nhiều lọn lá được lấy từ cây cọ, rồi đem phơi nắng, là nóng, ép phẳng mới thành. Phía bên trong nón có khi được trang trí bằng những loại vải đủ sắc màu, quai buộc nón cũng được kết bằng những sợi chỉ đa màu.

Lá là chất liệu quan trọng làm nên chiếc nón được lấy từ hai loại cây giống như cây cọ, mọc ở những vùng đồi núi, trung du phía Bắc. Ngoài ra, người thợ phải biết cách chọn lá thật trắng, tẽ lá không được để rách, lá được là thật phẳng, không để ngả màu.

Với loại lá non còn búp, chưa xòe ra hẳn, người ta cắt về phơi khô hai đến ba nắng. Sau khi phơi khô lá sẽ được rẽ cho thẳng ra, sau đó người thợ đưa lá qua lưỡi cày được làm nóng, kéo nhanh tay để đảm bảo lá phẳng và không bị hỏng.

Sau đó tới công đoạn “ bứt vòng ”: Người thợ sẽ sử dụng dao, cước để quấn vòng quanh khuôn nón.

Công đoạn làm khung nón được cho là khó nhất bởi nó quyết định đến độ tròn vành và sự bền chắc của một chiếc nón. Nón làng Chuông trông đơn giản, nhưng đòi hỏi rất công phu, tỉ mỉ khi làm ra nó.

Khung nón làm bằng tre ngâm kỹ vừa dẻo dai lại rắn chắc, gồm 16 vành. Tre, nứa làm vành được vót tròn, đều và khi khâu không làm đứt cước.

Tiếp theo, người thợ sẽ dùng 1 lớp lá đã được là phẳng dải vào khung 1 lớp đầu tiên, sau đó đến 1 lớp mo và cuối cùng sẽ là 1 lớp lá nữa. Sau khi quay xong người thợ sẽ thực hiện khâu nón theo từng vòng. Bước “khâu nón” khá mỉ mỉ, người thợ sẽ dùng kim, cước để khâu lần lượt các vòng nón từ trên đỉnh nón xuống đến vòng cạp ( vòng to nhất của nón ).

Sự khéo của người thợ khâu sẽ thể hiện qua từng mũi kim. Mũi khâu yêu cầu phải ngắn, lỗ nhỏ thì chiếc nón mới tròn, khít, mịn từ mép lá đến đường khâu. Cái tài của người thợ làng Chuông là các múi nối sợi móc khi khâu được dấu kín và khi nhìn vào chiếc nón chỉ thấy đều tăm tắp những mũi khâu…

Sau khi khâu xong đủ 16 vòng nón, các bà các chị phải luồn nhôi. Người thợ sẽ dùng kim (kim luồn nhôi cong) để luồn sợi chỉ qua vòng nón bên mặt trong của chiếc nón, người sử dụng có thể buộc quai nón khi sử dụng.

Công đoạn cuối cùng là bước " nức nón ": Người thợ sẽ dùng vòng liếc, vòng kèm, cước đỏ, kim để làm công đoạn này. Để chiếc nón đẹp thêm, ngoài các hoa văn, người thợ còn kết hợp trang trí bằng chữ màu hình hoa sao. Cứ thế, bí quyết, kinh nghiệm và kỹ thuật làm nghề cũng như tâm huyết làm nón lá được truyền từ đời này sang đời khác.

Làm nón quai thao cũng công phu và phức tạp hơn nhiều so với làm một chiếc nón đội đầu thông thường. Người làm nón phải trải qua rất nhiều công đoạn, mỗi công đoạn đều có độ khó khác nhau.

Từ khâu làm lá, lắp lá vào hay còn gọi là quay nón rồi khâu nón, cạp nón, trang trí… đều đòi hỏi người thợ phải thật kiên trì, khéo léo để nón được tròn, được khít, mịn từ mép lá đến đường kim, mũi chỉ.

Vừa trò chuyện với khách, nghệ nhân Đạt vẫn chăm chú khâu nón với từng đường kim mũi chỉ nhịp nhàng, thoăn thoắt, ông cho biết: Mặc dù nghề làm nón vốn đem lại thu nhập không nhiều so với làm những nghề khác nhưng gia đình tôi từ thế hệ cha ông đến thế hệ các con của tôi vẫn luôn nhắc nhở, cùng nhau giữ nghề.

Trước đây, trẻ con trong làng hầu như cứ lên 6 - 7 tuổi là đã biết khâu nón, thậm chí biết cầm kim khâu nón trước khi cầm bút học chữ, hiện giờ do kinh tế thị trường mở cửa, các khu công nghiệp mọc lên san sát khắp nơi nên mà không dạy cho bọn trẻ nữa là coi như mất nghề…Hy vọng rằng với những nỗ lực và các cơ chế chính sách phù hợp của các cấp chính quyền, uy tín của nón làng Chuông sẽ càng được khẳng định; đồng thời mở ra cơ hội mới trong việc bảo tồn, phát triển nghề nón”, nghệ nhân Lê Xuân Đạt trăn trở.

Bà Phạm Thị Hòa ( sinh năm 1955 ) – vợ nghệ nhân Đạt tiếp lời cho biết: “ Trung bình một người chỉ làm ra một sản phẩm nón trong một ngày. Giá của một chiếc nón lá thường dao động từ 50.000 đồng đến 180.000 đồng, tùy vào từng sản phẩm. Ngày nay có nhiều công việc khác thu nhập cao hơn người dân có thể chọn lựa mà không nhất thiết phải làm nón. Nghề này từ thời tổ tiên tôi truyền lại nên thu nhập dù có ít tôi cũng phải giữ nghề, chỉ lo lớp trẻ và con cháu sau này chẳng còn ai học nghề để mà gìn giữ ”.

Cái nghề này nó tỉ mẩn lắm, làm nón mà suốt ruột thì không làm được. Trung bình một ngày, nếu người thợ làm nhanh, thành thạo các công đoạn cũng chỉ làm được khoảng 2 chiếc.

Nón quai thao thường được dùng trong các tiết mục biểu diễn như hát quan họ… chứ không dùng để đội đầu, che nắng, mưa như các loại nón thông thường khác bởi vậy sản phẩm của gia đình nghệ nhân Đạt làm hầu hết là theo đơn hàng đặt của khách nên thường đa dạng về mẫu mã, kiểu dáng.

Đổi mới cách làm để sản phẩm đẹp hơn

Với nghệ nhân Đạt, mỗi lần làm xong, khi cầm chiếc nón trên tay, ngắm nghía lại những “đứa con” của mình, lòng ông lại ngập tràn hạnh phúc. Chính điều đó khiến ông thêm yêu nghề, yêu làng nhiều hơn.

Điều hạnh phúc hơn cả là những chiếc nón ông làm ra luôn được mọi người hào hứng đón nhận, những chiếc nón quai thao ấy lại tô điểm thêm nét duyên dáng cho các liền chị qua từng câu hát quan họ dịu dàng, đằm thắm.

Giờ đây, tuổi đã cao nhưng nghệ nhân Đạt vẫn không ngừng sáng tạo. Ngày ngày, ông vẫn cần mẫn với công việc làm nón. Nghề làm nón cổ được ông phục hồi chẳng những giúp người thợ làng nón có thêm thu nhập, nâng cao giá trị của sản phẩm làng nghề mà còn góp phần gìn giữ, bảo tồn một nét văn hóa truyền thống của làng Chuông.

Những năm qua, sự hài lòng của khách hàng trong cả nước về sản phẩm đã khích lệ nghệ nhân đổi mới mẫu mã và kiểu dáng để đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng nhưng sản phẩm vẫn đảm bảo về chất lượng.

Ông Đạt chia sẻ, có rất nhiều nơi làm nón lá, nhưng nón lá làng Chuông vẫn luôn có một chỗ đứng cho riêng mình vì nón lá làng Chuông mang những đặc tính ưu việt, độ bền cao, chắc chắn, nón có độ bóng tự nhiên, cầm nón trên tay cảm giác nhẹ nhàng, thanh mảnh.... Những người tinh ý sẽ nhận thấy, nón làng Chuông được chăm chút từ đường chỉ, các mũi chỉ đều tay, nhịp nhàng.

Tuy nhiên, nghề làm nón ngày nay mang lại lợi nhuận không nhiều, rất ít người trong làng còn làm nghề, đa phần là những người lớn tuổi, còn thế hệ trẻ đã không mấy “ mặn mà ” theo nghề của cha ông. Bởi vậy, được truyền nghề cho lớp thợ trẻ, được giảng giải về cái đẹp, nét văn hóa đặc sắc thể hiện trong từng chiếc nón cổ là mong mỏi lớn nhất của người nghệ nhân tài hoa này.

Trung bình thời gian để hoàn thiện mỗi chiếc nón được gia đình nghệ nhân Lê Xuân Đạt làm từ 8 tiếng – 2 ngày tùy theo từng kích cỡ. Ảnh Trần Toản.

Trung bình thời gian để hoàn thiện mỗi chiếc nón được gia đình nghệ nhân Lê Xuân Đạt làm từ 8 tiếng – 2 ngày tùy theo từng kích cỡ. Ảnh Trần Toản.

Ngày nay, sợ nghề làm nón thất truyền, nghệ nhân Đạt vẫn thường xuyên dạy nghề cho những thế hệ trẻ trong làng có niềm yêu thích, đam mê với nghề. Các con của ông cũng được ông truyền dạy nghề, hàng ngày chị Nguyễn Thị Yến (con dâu nghệ nhân Đạt) vẫn hăng say, miệt mài cùng bố làm ra những chiếc nón quai thao đạt chất lượng cao, được nhiều người trong làng ngưỡng mộ.

Chị Nguyễn Thị Yến – con dâu của nghệ nhân Đạt cho biết: “Mặc dù là nghề phụ, nhưng làm nón mang lại tiền mặt để chi tiêu, trang trải nhiều khoản cho gia đình. Tuy nhiên, hiện nay hầu hết thanh niên học xong phổ thông đều chọn nghề khác để kiếm sống”.

Cùng với đó, mỗi năm có những đoàn du khách, những cháu học sinh trên địa bàn Thủ đô về làng để trải nghiệm nghề làm nón, ông Đạt vẫn nhiệt tình truyền dạy lại cho các cháu. Với ông, đó là cách truyền nghề được xa hơn, sâu rộng hơn đến với mọi thế hệ.

Ông Lưu Văn Cường – trưởng làng Chuông cho biết: Gia đình nghệ nhân Lê Xuân Đạt là hộ gia đình tiêu biểu trong làng Chuông đã có 4 đời gắn bó với nghề làm nón của cha ông.

Để thúc đẩy bảo tồn và phát huy làng nghề làm nón truyền thống, địa phương chủ trương ra nghị quyết hàng năm để tạo điều kiện thuận lợi cho những hộ gia đình vay vốn với lãi suất ưu đãi, giúp người làm nón mua sắm các dụng cụ, nguyên vật liệu làm nón; tuyên truyền mọi người dân đặc biệt là giới trẻ giữ nghề truyền thống và tạo điều kiện đối với các hộ kinh doanh buôn bán, chuyên chở nguyên vật liệu làm nón từ nơi khác về làng nghề.

  Trần Toản

Xem thêm

Giải mã pho tượng gỗ hình người dạt vào bãi biển

Giải mã pho tượng gỗ hình người dạt vào bãi biển

(CLO) Pho tượng tạc hình người đàn ông mặc trang phục giống quan lại thời xưa, đầu đội mũ trụ, ngồi trên bục gỗ được người dân phát hiện dạt vào biển Cửa Lò (Nghệ An). Bước đầu, cơ quan chuyên môn nhận định đây là tượng Ngọc Hoàng Thiên đế trong tín ngưỡng Đạo giáo.

UBND phường Bỉm Sơn (Thanh Hóa) có "né tránh" cung cấp thông tin cho báo chí?

UBND phường Bỉm Sơn (Thanh Hóa) có "né tránh" cung cấp thông tin cho báo chí?

(CLO) Liên quan đến việc dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng cụm công nghiệp Đông Sơn II, phường Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa có dấu hiệu thi công sang diện tích đất thuộc giai đoạn hai của dự án khi chưa hoàn thiện các thủ tục pháp lý. Phóng viên báo Nhà báo và Công Luận đã nhiều lần liên hệ làm việc với UBND phường Bỉm Sơn để được cung cấp thông tin, tuy nhiên lãnh đạo UBND phường liên tục báo bận.

Đồng chí Nguyễn Thị Nguyệt - Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng ban Chỉ đạo 515 tỉnh phát biểu giao nhiệm vụ trước khi xuất quân quy tập hài cốt liệt sĩ hy sinh tại Lào, mùa khô năm 2026 - 2027

Kỳ cuối: Còn đồng đội nằm lại, còn phải đi tìm

(CLO) Hơn nửa thế kỷ sau chiến tranh, những dấu tích có thể bị thời gian và rừng núi phủ lấp, nhưng trách nhiệm với những người đã hy sinh vẫn chưa bao giờ phai nhạt. Với Hà Tĩnh, hành trình tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ vẫn tiếp tục, bởi còn một người chưa trở về, còn một danh tính chưa được gọi đúng tên, những người làm nhiệm vụ hôm nay vẫn còn phải đi tìm.

Người đàn ông hơn 40 năm tâm huyết với cây chè Sông Cầu

Người đàn ông hơn 40 năm tâm huyết với cây chè Sông Cầu

(CLO) Hành trình 40 năm Đổi mới nông thôn Việt Nam được viết nên bởi sự thay đổi tư duy của những người nông dân thầm lặng. Minh chứng rõ nét có thể thấy là cuộc đời 43 năm gắn bó với đồi chè ở Đồng Hỷ (Thái Nguyên) của lão nông Hoàng Xuân Thủy. Từ một công nhân nông trường thời bao cấp tự lực giữ đất giữ nghề, câu chuyện tiếp nối qua ba thế hệ của gia đình ông đã đại diện cho sự lột xác của vùng danh trà Sông Cầu khi bước vào kỷ nguyên số.

Kỳ 3: Ngày các anh trở về đất Mẹ

Kỳ 3: Ngày các anh trở về đất Mẹ

(CLO) Sau hàng chục năm nằm lại giữa đại ngàn nước bạn Lào, 9 hài cốt liệt sĩ quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam được cán bộ, chiến sĩ Đội Quy tập hài cốt liệt sĩ thuộc Bộ CHQS tỉnh Hà Tĩnh tìm kiếm, cất bốc và đưa về quê hương trong mùa khô 2025-2026. Những linh cữu phủ Quốc kỳ đỏ thắm khép lại một chặng đường gian nan, nhưng đồng thời mở ra một hành trình khác: trả lại tên tuổi, quê quán và gia đình cho những người đã hy sinh.

Quảng Trị: Mưa lớn gây ngập, chia cắt nhiều khu vực miền núi

Quảng Trị: Mưa lớn gây ngập, chia cắt nhiều khu vực miền núi

(CLO) Mưa to đến rất to dưới tác động của áp thấp nhiệt đới khiến nước các sông tại Quảng Trị dâng nhanh, nhiều cầu tràn, ngầm tràn ở khu vực miền núi phía Tây bị ngập sâu, giao thông chia cắt. Chính quyền địa phương đã di dời hàng trăm người dân khỏi khu vực nguy hiểm.

Thêm một hành động đẹp của cán bộ, nhân viên xe buýt Transerco

Thêm một hành động đẹp của cán bộ, nhân viên xe buýt Transerco

Để quên ba lô chứa 30 triệu đồng tiền mặt cùng nhiều tài sản có giá trị trên xe buýt, một hành khách tại Hà Nội may mắn nhận lại đầy đủ tài sản ngay trong ngày nhờ sự trách nhiệm, tận tâm của lái xe và nhân viên phục vụ xe buýt của Transerco.

Những hình ảnh, hiện vật kể câu chuyện tình yêu trong chiến tranh

Những hình ảnh, hiện vật kể câu chuyện tình yêu trong chiến tranh

(CLO) Gần 100 tư liệu, hình ảnh quý kể về những câu chuyện tình yêu được thể hiện trong chuyên đề “Tình yêu trong chiến tranh”. Mỗi tư liệu, hình ảnh là một mảnh ký ức của quá khứ giúp công chúng hiểu sâu sắc về giá trị của tình yêu, của lòng chung thủy, của sự hy sinh và khát vọng hòa bình.

Kỳ 2: Cuộc chạy đua với thời gian để gọi tên các anh

Kỳ 2: Cuộc chạy đua với thời gian để gọi tên các anh

(CLO) Hơn nửa thế kỷ sau chiến tranh, nhiều liệt sĩ đã trở về với đất Mẹ nhưng vẫn chưa thể trở về trọn vẹn với gia đình. Trên những bia mộ, dòng chữ “Liệt sĩ chưa xác định được thông tin” vẫn lặng lẽ hiện hữu. Trong cuộc chạy đua với sự bào mòn của thời gian, những mẫu sinh phẩm nhỏ bé đang mở ra hy vọng trả lại tên tuổi cho những người lính đã ngã xuống.

Hang Dơi (Pù Luông): Cảnh báo nguy cơ đá rơi, mất an toàn

Hang Dơi (Pù Luông): Cảnh báo nguy cơ đá rơi, mất an toàn

(CLO) Trước nguy cơ đất, đá từ phía trên Hang Dơi rơi xuống khu vực có du khách, Ban Quản lý Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Luông đề nghị tạm dừng việc tổ chức, đưa đón khách tham quan, khám phá hang để bảo đảm an toàn.

Thanh Hóa: Nhà thầu chậm tiến độ sẽ bị chấm dứt hợp đồng

Thanh Hóa: Nhà thầu chậm tiến độ sẽ bị chấm dứt hợp đồng

(CLO) Trước tình trạng một số dự án đầu tư công chậm tiến độ, giải ngân thấp, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa Đầu Thanh Tùng yêu cầu chủ đầu tư tăng cường giám sát, đôn đốc thi công và sẵn sàng chấm dứt hợp đồng đối với nhà thầu không đáp ứng yêu cầu.

Cỡ chữ bài viết: