Các chuyên gia khi trao đổi cùng Báo Nhà báo và Công luận cho rằng thành công của sáp nhập không được đo bằng số trường biến mất, mà bằng giá trị mới được tạo ra cho người học, nhà khoa học và xã hội.
Không thể sáp nhập theo kiểu "cào bằng"
PGS.TS Đỗ Văn Dũng, nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP HCM, Chủ tịch Hội Ô tô và Thiết bị động lực TP HCM, chỉ rõ mục tiêu giảm khoảng 20% đầu mối các cơ sở giáo dục đại học chỉ có ý nghĩa khi đi kèm quá trình tái cấu trúc toàn diện. Theo ông, sáp nhập không đơn thuần là hợp nhất bộ máy, mà phải hướng tới xây dựng các đại học đa lĩnh vực có năng lực quản trị, tài chính, đào tạo và nghiên cứu vượt trội hơn.
"Nếu chỉ gộp đầu mối mà không thiết kế lại thể chế, kết quả sẽ là một tổ chức lớn nhưng vận hành phân mảnh", ông Dũng nhận định.
Việc sắp xếp các trường đại học phải dựa trên năng lực, sứ mệnh và nhu cầu phát triển của từng vùng, thay vì chỉ căn cứ vào khoảng cách địa lý hay số lượng đơn vị.
Mỗi phương án sáp nhập cần trả lời rõ bốn vấn đề cốt lõi: Các trường bổ sung năng lực cho nhau ở đâu; sau hợp nhất quy mô đào tạo, đội ngũ, tài sản có được tối ưu hay không; đại học mới sẽ tập trung vào những lĩnh vực mũi nhọn nào và đóng góp gì cho chiến lược phát triển địa phương, quốc gia; đồng thời chi phí chuyển đổi và rủi ro có thấp hơn giá trị lâu dài mang lại hay không.
Ông Dũng đặc biệt lưu ý mục tiêu giảm 20% đầu mối không nên được hiểu là cắt giảm cơ học. Những cơ sở quy mô nhỏ nhưng có sứ mệnh đặc thù như đào tạo giáo viên, quốc phòng - an ninh, trường ở vùng sâu vùng xa hay các ngành hiếm cần có cơ chế bảo vệ riêng.
Dẫn kinh nghiệm Trung Quốc trong giai đoạn 1992-2005 với hơn 400 vụ sáp nhập, tạo ra nhiều đại học đa lĩnh vực quy mô lớn như Đại học Phục Đán sau khi hợp nhất với Đại học Y Thượng Hải, ông cho rằng thành công chỉ đến khi quá trình này được thiết kế trên cơ sở chiến lược rõ ràng, chứ không phải áp đặt bằng mệnh lệnh hành chính.
Bốn mô hình sắp xếp phù hợp với từng nhóm trường
Theo ông Dũng, không phải mọi cơ sở giáo dục đại học đều áp dụng chung một mô hình sáp nhập.
Đối với các trường quy mô nhỏ, ngành đào tạo trùng lặp, tuyển sinh yếu, có thể sáp nhập hoàn toàn vào trường mạnh hơn hoặc đại học vùng để sử dụng chung hệ thống quản trị và hạ tầng.
Những trường có thế mạnh chuyên ngành rõ rệt nên trở thành trường thành viên hoặc học viện trực thuộc đại học lớn, vừa giữ được thương hiệu học thuật, vừa tận dụng nền tảng quản trị chung.
Các trường cùng địa bàn, ngành nghề bổ trợ lẫn nhau có thể hợp nhất thành đại học đa lĩnh vực nhằm hình thành hệ sinh thái đào tạo, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo.
Riêng những trường thực hiện nhiệm vụ công hoặc phục vụ vùng khó khăn nên ưu tiên mô hình liên kết chiến lược, chia sẻ dịch vụ hoặc tổ chức lại từng phần để vẫn bảo đảm cơ hội tiếp cận giáo dục.
Mô hình tối ưu là "một pháp nhân đại học - nhiều trường thành viên". Đại học giữ vai trò hoạch định chiến lược, quản lý ngân sách, dữ liệu, thương hiệu và hợp tác quốc tế, trong khi các trường thành viên được trao quyền chủ động cao về học thuật, chương trình đào tạo và nghiên cứu chuyên ngành. Đây cũng là cách tiếp cận mà nhiều đại học tại Anh và Australia đang áp dụng.
Cần một chương trình tái cấu trúc quốc gia
Với thời hạn hoàn thành trước ngày 1/4/2027, ông Dũng cho rằng quá trình này phải được triển khai như một chương trình quốc gia với lộ trình rõ ràng.
Từ tháng 8 đến tháng 10/2026, cần hoàn thành việc rà soát, phân loại các trường theo quy mô, chất lượng, tài chính, ngành nghề, nhu cầu nhân lực và xây dựng bản đồ mạng lưới.
Giai đoạn tháng 10-12/2026 sẽ thiết kế phương án sáp nhập, lựa chọn đối tác, mô hình và hoàn tất thẩm định pháp lý, tài chính, nhân sự.
Tháng 1/2027 ban hành quyết định, thành lập bộ máy chuyển tiếp và công bố phương án xử lý nhân sự, tài sản, đào tạo.
Trong 3 tháng đầu năm 2027 sẽ tập trung tích hợp các hoạt động trọng yếu như pháp nhân, tài chính, dữ liệu, tuyển sinh, nhân sự, tài sản và hệ thống bảo đảm chất lượng, trước khi hoàn tất toàn bộ thủ tục vào ngày 1/4/2027.
Theo ông, mỗi đề án cần đi kèm kế hoạch tích hợp hậu sáp nhập kéo dài ít nhất 24-36 tháng với các chỉ số đánh giá cụ thể. Kinh nghiệm của OECD, McKinsey cùng nhiều vụ sáp nhập tại Anh và Australia cho thấy rất nhiều thương vụ thất bại vì chỉ dừng ở việc hợp nhất trên giấy mà thiếu đội ngũ chuyên trách và kế hoạch tích hợp chi tiết.
Quản trị tập trung nhưng phải trao quyền cho trường thành viên
Sau sáp nhập cần chuyển từ mô hình "một trường mở rộng" sang "tập đoàn học thuật công".
Do đó, ông Dũng mong muốn cấp đại học, cần tập trung quản lý chiến lược phát triển, hội đồng đại học, ngân sách, đầu tư, dữ liệu số, kiểm định chất lượng, thương hiệu, hợp tác quốc tế và các dịch vụ dùng chung như tuyển sinh, khảo thí, thư viện số, pháp chế.
Trong khi đó, các trường thành viên phải được trao quyền thực chất trong thiết kế chương trình đào tạo, phát triển ngành đặc thù, quản lý giảng viên, người học, ngân sách khoán theo kết quả, xây dựng văn hóa nghề nghiệp và phát triển các nhóm nghiên cứu.
"Đại học quyết định những gì cần thống nhất; trường thành viên quyết định cách thực hiện tốt nhất trong phạm vi được giao", ông Dũng nhấn mạnh.
Theo kinh nghiệm từ Pháp, nếu không cân bằng quyền lực giữa cấp đại học và trường thành viên, xung đột quản trị sẽ kéo dài.
Ảnh: Phenikaa
Một trong những nguy cơ lớn nhất sau sáp nhập là giữ nguyên toàn bộ đầu mối cũ hoặc ngược lại cắt giảm nhân sự hành chính theo tỷ lệ đồng loạt.
Trước hết cần xây dựng bản đồ vị trí việc làm để xác định các chức năng trùng lặp, sau đó đào tạo lại đội ngũ cho những lĩnh vực còn thiếu như quản trị dữ liệu, bảo đảm chất lượng, hỗ trợ nghiên cứu, quan hệ doanh nghiệp hay vận hành số.
Ông dẫn kinh nghiệm của Australia cho thấy việc tiết kiệm chi phí quản trị là khả thi, nhưng cần thời gian và nguồn lực đầu tư cho chuyển đổi.
Người học phải là đối tượng được bảo vệ đầu tiên
Cũng theo ông Đỗ Văn Dũng, chính sách nhân sự phải được xây dựng trước khi công bố sơ đồ tổ chức mới.
Các trường cần công khai nguyên tắc bảo đảm quyền lợi của cán bộ, tiêu chí lựa chọn lãnh đạo, khung chức danh, chế độ thu nhập, phương án xử lý vị trí chồng chéo và chính sách giữ chân nhân sự giỏi.
"Người học phải là nhóm được bảo vệ đầu tiên. Nhà trường cần cam kết bằng văn bản việc duy trì chuẩn đầu ra, bảo đảm giá trị văn bằng, bảng điểm, quyền lợi học tập; không điều chỉnh đột ngột học phí, học bổng, ký túc xá; đồng thời xây dựng phương án chuyển tiếp rõ ràng nếu thay đổi tên trường, mã ngành hoặc địa điểm đào tạo", ông Dũng nhấn mạnh.
Hiệu quả sáp nhập cũng không nên chỉ đo bằng số lượng trường giảm, mà phải đánh giá đồng thời các chỉ số về tổ chức, tài chính, đào tạo, nghiên cứu, nhân sự, mức độ hội nhập và văn hóa.
Ông cũng kiến nghị sớm thành lập Ban chỉ đạo cấp quốc gia có quyền điều phối liên vùng; ban hành bộ tiêu chí thống nhất lựa chọn trường sáp nhập; chuẩn hóa dữ liệu dùng chung; công bố cơ chế bảo vệ người học và đội ngũ trước khi triển khai; đồng thời đánh giá độc lập sau 6, 12 và 24 tháng.
"Giảm 20% đầu mối hoàn toàn khả thi nếu được triển khai như một chương trình tái cấu trúc quốc gia có dữ liệu, lộ trình và trách nhiệm giải trình. Thành công cuối cùng không nằm ở số lượng trường bị xóa tên, mà ở việc đại học sau sáp nhập có giảm được chi phí trùng lặp, nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu, giữ chân nhân tài, bảo vệ người học và tạo dựng được văn hóa hợp tác mới hay không", ông Dũng nói.
Thành công phụ thuộc vào văn hóa hơn là quyết định hành chính
Bàn về mâu thuẫn sau sáp nhập thường phát sinh từ quyền lực, nguồn lực, thương hiệu và tâm lý mất bản sắc.
Ông Dũng cho biết để xử lý, cần công khai tiêu chí lựa chọn lãnh đạo; phân bổ ngân sách theo công thức minh bạch dựa trên quy mô, chất lượng và kết quả nghiên cứu; rà soát, phân tầng lại các ngành đào tạo; đồng thời triển khai các chương trình hội nhập, đối thoại thường xuyên và xây dựng các dự án hợp tác chung.
Vì vậy, ông đề xuất thành lập Hội đồng hội nhập và giải quyết xung đột trong 24 tháng đầu, gồm lãnh đạo đại học, đại diện trường thành viên, công đoàn, giảng viên, chuyên gia quản trị và người học, với cơ chế tiếp nhận phản ánh bảo mật và quy trình xử lý rõ ràng.
Theo kinh nghiệm quốc tế, khoảng 25% thất bại trong các thương vụ sáp nhập xuất phát từ việc không giải quyết được khác biệt văn hóa. Vì vậy, văn hóa tổ chức phải được xây dựng trên những giá trị cụ thể như tôn trọng chuyên môn, minh bạch, hợp tác, lấy người học làm trung tâm và đánh giá theo kết quả.
Trong năm đầu tiên cần tổ chức các chương trình định hướng chung, học phần liên ngành, dự án nghiên cứu liên trường, luân chuyển cán bộ quản lý và diễn đàn đối thoại định kỳ. Kinh nghiệm từ các vụ sáp nhập tại Manchester, Trung Quốc và Australia cho thấy giữ được bản sắc chuyên môn trong khi hình thành bản sắc chung là yếu tố quyết định thành công.
Tinh gọn đầu mối không đồng nghĩa với xóa bỏ ký ức
Ở góc độ lập pháp, Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Việt Nga, Phó Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội chuyên trách TP Hải Phòng, Ủy viên Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, cho rằng lo ngại về nguy cơ mất bản sắc sau sáp nhập là hoàn toàn có cơ sở.
Theo bà, một trường đại học không chỉ là một pháp nhân hay một bộ máy hành chính, mà còn là lịch sử, truyền thống học thuật, đội ngũ các thế hệ nhà giáo, cựu sinh viên và những giá trị tinh thần đã được vun đắp qua nhiều năm. Nhiều tên trường đã trở thành thương hiệu nghề nghiệp, gắn với ký ức và niềm tự hào của nhiều thế hệ.
Tuy nhiên, bà nhấn mạnh bảo tồn bản sắc không đồng nghĩa với việc giữ nguyên mọi đầu mối hay mọi mô hình tổ chức cũ.
"Cần phân biệt giữa những giá trị thực sự cần gìn giữ với những cơ cấu không còn phù hợp. Truyền thống học thuật, thương hiệu đào tạo, ngành nghề thế mạnh, kho tư liệu, di sản kiến trúc, mạng lưới cựu sinh viên và những đóng góp lịch sử cần được bảo tồn; còn sự cồng kềnh, trùng lặp hay khép kín trong quản trị thì cần được thay đổi", bà Nga nói.
Nữ đại biểu cho rằng một hướng đi phù hợp là tổ chức đại học theo mô hình có các trường thành viên, viện hoặc phân hiệu kế thừa tên gọi và truyền thống của các cơ sở cũ. Cách làm này vừa giúp giảm đầu mối pháp nhân, vừa duy trì thương hiệu học thuật của từng đơn vị.
Đối với những trường có thế mạnh đặc thù cần tiếp tục được trao quyền tự chủ học thuật phù hợp để không bị "hòa tan" trong các đại học đa ngành quy mô lớn. Đặc biệt, các lĩnh vực như sư phạm, nghệ thuật, khoa học cơ bản hay những ngành chuyên sâu tuy không tạo nguồn thu lớn nhưng có ý nghĩa chiến lược đối với quốc gia cần tiếp tục được đầu tư.
Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga nhấn mạnh quá trình lựa chọn tên gọi và nhận diện của trường sau sáp nhập phải được thảo luận công khai, có sự tham gia của giảng viên, nhà khoa học, người học và cựu sinh viên. Một tên gọi mới chỉ có sức sống khi tạo được sự đồng thuận và kết nối được các truyền thống khác nhau, thay vì là kết quả của một quyết định hành chính.
"Tinh gọn đầu mối không đồng nghĩa với xóa bỏ ký ức; xây dựng một đại học mới không có nghĩa là bắt đầu từ con số không. Mục tiêu cuối cùng không phải làm cho các trường giống nhau, mà là tạo ra một hệ thống giáo dục đại học tinh gọn hơn, đa dạng hơn về sứ mạng, mạnh hơn về chất lượng và có khả năng đóng góp thiết thực hơn cho sự phát triển của đất nước", bà khẳng định.