Có hôm một, hai giờ sáng tỉnh giấc, tôi vẫn thấy điện thoại của vợ sáng bên cạnh. Trước đây tôi thường càu nhàu: “Xem gì mà xem mãi thế?”. Tôi vốn không thích những bộ phim kiểu này, cho rằng chúng vừa giả vừa nhạt. Cho đến một hôm, vì tò mò, tôi xem thử.
Và tôi cũng bấm sang tập tiếp theo. Đấy là lúc tôi bắt đầu thấy mình có vấn đề. Không phải vì bộ phim hay đến mức nào, mà vì tôi nhận ra nó có một thứ rất khó cưỡng, luôn để lại một câu hỏi vừa đủ để mình muốn biết chuyện gì xảy ra sau đó.
Tôi bắt đầu để ý và thấy chuyện này không chỉ có ở nhà mình. Ở cơ quan, có người tranh thủ giờ nghỉ trưa để xem, có người ngủ mà vẫn để video chạy chỉ để nghe giọng đọc. Trên xe buýt, quán nước, những lúc chờ đợi, những chiếc điện thoại liên tục phát ra các câu chuyện vài phút, hình ảnh thay đổi nhanh và giọng đọc đều đều dẫn người xem từ tình tiết này sang tình tiết khác.
Từ câu chuyện trong gia đình, tôi nhìn thấy một dòng nội dung đang phình ra với tốc độ rất khác trước. Tại Trung Quốc, chỉ trong 8 tháng đầu năm 2026 đã có khoảng 430.000 phim ngắn được phát hành, hơn 90% có sử dụng AI ở một hoặc nhiều công đoạn sản xuất. Khoảng 68.000 nội dung đã bị xử lý, gỡ bỏ.
Con số 68.000 nghe rất lớn, nhưng đặt cạnh hàng trăm nghìn sản phẩm được tạo ra trong cùng khoảng thời gian, nó lại khiến tôi nghĩ đến một chuyện khác: tốc độ sản xuất nội dung đang vượt xa tốc độ kiểm soát nội dung.
Và từ đây, câu chuyện không còn chỉ là “mọi người đang nghiện phim AI”.
AI đang biến việc làm phim thành một dây chuyền
Trước đây, để làm một bộ phim, người ta phải bỏ tiền cho diễn viên, bối cảnh, máy quay, âm thanh, hậu kỳ và hàng loạt công việc khác. Chính những chi phí ấy khiến việc sản xuất nội dung ít nhiều có một bộ lọc tự nhiên, nên người ta phải cân nhắc trước khi làm.
Bây giờ thì AI đang tháo bớt những cái khóa ấy. Một câu chuyện có thể được viết, tạo hình nhân vật, dựng thành video, lồng tiếng và hoàn thiện nhanh hơn rất nhiều. Quan trọng hơn, người sản xuất có thể thử cùng lúc nhiều kịch bản, xem khán giả phản ứng với kiểu nào rồi tiếp tục nhân bản kiểu đó.
Theo ông Nguyễn Bảo Trung, Quyền Giám đốc Vision Center, FPT Smart Cloud, phim ngắn AI hấp dẫn người xem nhờ nhịp kể nhanh, cảm xúc mạnh và hình ảnh ngày càng hoàn chỉnh. Những mô-típ quen thuộc như nghèo thành giàu, bị phản bội, ly hôn, xuyên không, trả thù... được AI tái tạo với tốc độ cao, khiến người xem liên tục gặp những hình ảnh mới dù câu chuyện thực chất không mới.
Tôi nghĩ đây mới là thay đổi lớn nhất mà AI mang lại cho ngành nội dung. Nó không chỉ làm một bộ phim nhanh hơn, mà làm cho việc thử nghiệm hàng loạt bộ phim trở nên rẻ hơn.
Một câu chuyện không cần thành công ngay. Nó có thể được thử, sửa, đổi nhân vật, đổi giọng, đổi cách mở đầu rồi đưa trở lại thị trường. Cái gì giữ được người xem thì tiếp tục được làm. Cái gì không hiệu quả thì bỏ.
Làm phim, vì thế, bắt đầu mang dáng dấp của một dây chuyền sản xuất.
Khi “được xem” quan trọng hơn “đáng xem”
Tôi không nghĩ phim AI là vấn đề chỉ vì nó do AI tạo ra. AI hoàn toàn có thể giúp một người ít tiền làm được những sản phẩm trước đây họ không đủ khả năng thực hiện. Điều khiến tôi băn khoăn là một hệ thống sản xuất nội dung quá dễ dàng sẽ chạy theo thứ gì.
Nếu mục tiêu cuối cùng là giữ người xem ở lại lâu hơn, thì những thứ kích thích tò mò, gây sốc, tạo tức giận hoặc khiến người ta muốn biết “tập sau thế nào” sẽ có lợi thế. Khi đó, nội dung rất dễ được tối ưu cho khả năng được xem, thay vì giá trị của việc xem. Đây là chỗ tôi thấy câu chuyện phim AI đáng lo hơn chuyện những bộ phim ấy dở hay hay.
ThS Đinh Ngọc Sơn, Trường Quản trị và Kinh doanh, Đại học Quốc gia Hà Nội, cho rằng AI có thể tạo cảm giác mới mẻ về hình ảnh trong khi các mô-típ câu chuyện lại lặp lại; việc tiếp xúc thường xuyên với nội dung có nhịp độ cao và xung đột dày có thể làm giảm sự kiên nhẫn đối với những nội dung cần nhiều thời gian để theo dõi và suy nghĩ. Ông cũng lưu ý rằng AI không tự thân gây tác động tiêu cực; vấn đề xuất hiện khi người dùng mất khả năng kiểm soát thời lượng sử dụng.
Tôi đồng ý với vế sau, nhưng cũng nghĩ rằng không thể cứ có chuyện gì xảy ra trên mạng lại quay về khuyên người dùng “hãy tự kiểm soát”.
Bởi vì, nếu một người liên tục được đưa cho những thứ được thiết kế để khiến họ xem tiếp, trách nhiệm không thể chỉ thuộc về người đang cầm điện thoại. Vậy ai chịu trách nhiệm?
Đừng để người cầm điện thoại gánh hết trách nhiệm
Đây là câu hỏi mà AI đặt ra rõ hơn bao giờ hết. Người làm nội dung phải chịu trách nhiệm về sản phẩm của mình, từ bản quyền, hình ảnh, thông tin sai lệch cho đến những nội dung có khả năng gây hại. Nhưng nền tảng cũng không thể chỉ nói rằng mình là nơi “cho đăng”.
Nền tảng quyết định rất nhiều về việc nội dung nào được đề xuất, nội dung nào được nhìn thấy rộng rãi và nội dung nào tiếp tục xuất hiện trước mắt một người. Khi AI có thể tạo ra hàng trăm nghìn sản phẩm, việc kiểm soát không thể chỉ chờ đến lúc một nội dung gây hậu quả rồi mới gỡ bỏ.
Đó cũng là lý do việc gắn nhãn và minh bạch về nội dung AI trở nên quan trọng. Việt Nam đã có Luật Trí tuệ nhân tạo 2025, có hiệu lực từ ngày 1/3/2026, cùng Nghị định 142/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 1/5/2026, trong đó có các quy định về thông báo, gắn nhãn, minh bạch và quản lý rủi ro đối với AI.
Nhưng gắn nhãn mới chỉ trả lời được câu hỏi “đây có phải nội dung do AI tạo ra hay không”. Nó chưa trả lời được câu hỏi khó hơn: tại sao nội dung này được đưa đến tôi, và vì sao tôi liên tục được đưa cho những nội dung tương tự?
Theo tôi, đây mới là phần trách nhiệm cần được nhìn thẳng.
AI đang làm cho sản xuất nội dung trở nên quá dễ dàng. Nền tảng lại có khả năng đưa nội dung ấy đến đúng người, đúng lúc, với tốc độ mà trước đây không một nhà phát hành nào có được. Nếu cả hai cùng vận hành theo một mục tiêu là giữ người dùng ở lại càng lâu càng tốt, thì xã hội không thể chỉ đứng ngoài nhìn người dùng tự trách mình vì đã xem quá nhiều.
Trách nhiệm phải được chia cho cả người tạo nội dung, nền tảng, cơ quan quản lý và người sử dụng. Không ai có thể một mình giải quyết bài toán này, cũng như không thể đẩy toàn bộ phần khó nhất cho người cầm chiếc điện thoại cuối cùng trong dây chuyền.
Tối nay, có thể vợ tôi vẫn sẽ nằm trên giường và xem phim AI. Có thể tôi vẫn sẽ càu nhàu, dù sau bài viết này tôi chẳng còn tư cách ca thán nhiều như trước, bởi tôi cũng từng ngồi xuống với ý định “xem thử một đoạn” rồi bấm sang tập tiếp theo.
Có lẽ điều đáng sợ nhất không phải là một bộ phim AI có thể khiến chúng ta mất vài phút. Mà là khi hàng trăm nghìn câu chuyện có thể được tạo ra mỗi ngày, được thử nghiệm, nhân bản và phân phối gần như không ngừng, chúng ta có thể dần quen với việc để máy quyết định câu chuyện nào đáng được mình dành thời gian.
AI không chỉ làm thay đổi cách làm phim. Nó đang làm thay đổi cách một nền văn hóa nội dung được sản xuất và đưa đến công chúng.
Và khi ấy, câu hỏi tôi muốn giữ lại không phải là “AI có làm phim hay không?”, mà là một câu hỏi khó chịu hơn nhiều: khi máy có thể sản xuất gần như vô tận những câu chuyện để giữ chúng ta ở lại, ai sẽ chịu trách nhiệm về những câu chuyện mà chúng ta đang xem?