Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được xây dựng gồm 9 Chương, 54 Điều nhằm hướng tới ba mục tiêu: Xác lập địa vị pháp lý của công nghiệp văn hóa như một ngành kinh tế tạo ra sản phẩm trên cơ sở kết hợp yếu tố văn hóa, sáng tạo, công nghệ và quyền sở hữu trí tuệ; kết nối chuỗi giá trị để thúc đẩy sản xuất, xuất khẩu, thu hút đầu tư và phát triển doanh nghiệp; thông qua sản phẩm và thị trường để quảng bá giá trị văn hóa và thương hiệu Việt Nam. Việc xây dựng và ban hành Luật Phát triển công nghiệp văn hóa không chỉ tạo lập khung thể chế đồng bộ, hành lang pháp lý rõ ràng và ổn định, mà còn khuyến khích sáng tạo, huy động nguồn lực xã hội và thúc đẩy phát triển thị trường văn hóa. Nếu được thông qua, Luật được kỳ vọng sẽ tạo dựng hành lang pháp lý đồng bộ, toàn diện, tháo gỡ những điểm nghẽn, khơi thông và huy động hiệu quả các nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa; qua đó tạo động lực đưa các giá trị, sản phẩm văn hóa Việt Nam vươn mạnh ra thế giới trong kỷ nguyên mới.
Phát triển công nghiệp văn hóa: Cần thêm những “cú hích” mới
Để công nghiệp văn hóa thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, nhiều chuyên gia cho rằng, điều quan trọng không còn là ý tưởng hay tài năng cá nhân, mà là khả năng xây dựng một hệ sinh thái hoàn chỉnh trong thời đại số. Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đã đánh dấu bước chuyển quan trọng trong tư duy phát triển khi đặt văn hóa vào vị trí vừa là nền tảng tinh thần, vừa là nguồn lực nội sinh và sức mạnh mềm của quốc gia. Trong đó, phát triển công nghiệp văn hóa được xác định là một hướng đi chiến lược nhằm chuyển hóa các giá trị văn hóa thành động lực phát triển kinh tế, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và vị thế của Việt Nam trong kỷ nguyên số. Thực tế cho thấy, dù có nhiều tiềm năng, tuy nhiên, công nghiệp văn hóa vẫn phát triển chưa tương xứng. Những rào cản lớn nhất hiện nay nằm ở thể chế, ở sự thiếu đồng bộ của chính sách và khoảng cách giữa tốc độ phát triển công nghệ với khả năng thích ứng của hệ thống quản lý.
Theo PGS. TS. Nguyễn Thị Thu Phương, Viện trưởng Viện Văn hóa, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam, Việt Nam hiện đang có đầy đủ các điều kiện để bước vào một giai đoạn phát triển mới của công nghiệp văn hóa. Lợi thế lớn nhất là kho tàng tài nguyên văn hóa được tích lũy qua hàng nghìn năm lịch sử, tạo nên nền tảng độc bản cho các sản phẩm mang đậm bản sắc dân tộc.
Bên cạnh đó là cơ cấu dân số vàng với lực lượng lao động trẻ từ 15 đến 35 tuổi, giàu năng lượng sáng tạo, nhạy bén với công nghệ và sẵn sàng đón nhận xu hướng mới đang mở ra cơ hội để các sản phẩm văn hóa vượt qua ranh giới địa lý, tiếp cận thị trường toàn cầu. Tuy nhiên, chúng ta đang ở trạng thái sẵn sàng nhưng chưa thực sự tạo được “cú hích”. Vị chuyên gia này cho rằng, một trong những nguyên nhân quan trọng là những điểm nghẽn thể chế. Trong khi nhiều lĩnh vực đã xây dựng được cơ chế đầu tư tương đối rõ ràng thì đầu tư cho văn hóa vẫn còn nhiều lúng túng. Hệ thống chính sách chưa theo kịp thực tiễn, chưa tạo đủ không gian cho cộng đồng sáng tạo phát huy năng lực.
Về góc độ quản lý, PGS. TS. Nguyễn Thị Thu Phương cũng cho rằng, tư duy phát triển công nghiệp văn hóa tại Việt Nam đang chuyển từ tiếp cận ngành văn hóa sang tiếp cận hệ sinh thái sáng tạo, gắn với dữ liệu, nền tảng số, đổi mới sáng tạo và sức mạnh mềm quốc gia. Tuy nhiên, thách thức lớn hiện nay là khoảng cách ngày càng gia tăng giữa tốc độ biến đổi của môi trường sáng tạo số với năng lực thích ứng của hệ thống quản trị văn hóa truyền thống. “Việc triển khai Nghị quyết 80-NQ/TW cần chuyển mạnh từ tư duy hỗ trợ đơn thuần sang xây dựng thể chế đủ khả năng kiến tạo hệ sinh thái sáng tạo trong cả môi trường thực và môi trường số”, PGS. TS. Nguyễn Thị Thu Phương nhấn mạnh.
Còn theo đạo diễn Nguyễn Quang Dũng, công nghiệp văn hóa cần được nhìn nhận bằng một cách tiếp cận khác với các ngành kinh tế truyền thống. Đầu tư cho văn hóa không phải lĩnh vực có thể tạo ra lợi nhuận tức thời, nhưng giá trị lan tỏa đối với thương hiệu quốc gia, du lịch, xuất khẩu và sức hấp dẫn của đất nước là rất lớn.
Dẫn kinh nghiệm từ Hàn Quốc, nơi văn hóa đã trở thành động lực thúc đẩy nhiều ngành kinh tế khác phát triển, đạo diễn Nguyễn Quang Dũng đề xuất, cần sớm xây dựng các quỹ hỗ trợ nghệ sĩ trẻ, quỹ học bổng và quỹ du học dành riêng cho các tài năng nghệ thuật nhằm tạo điều kiện để họ tiếp cận môi trường sáng tạo quốc tế.
Vị chuyên gia này cho rằng, cần mở rộng cơ hội hợp tác với các đoàn làm phim, các dự án văn hóa quốc tế để nguồn nhân lực trong nước có thêm điều kiện học hỏi quy trình làm việc chuyên nghiệp. Đặc biệt, môi trường quản lý cần cởi mở hơn với các thử nghiệm sáng tạo.
“Văn hóa không chỉ là gìn giữ mà còn là sáng tạo. Muốn có cái mới thì phải chấp nhận thử nghiệm. Có thể thành công hoặc thất bại, nhưng đó là điều cần thiết để tìm ra những giá trị mới”, đạo diễn Nguyễn Quang Dũng bày tỏ.
Đồng quan điểm, không ít ý kiến cũng cho hay, để công nghiệp văn hóa trở thành động lực tăng trưởng mới dựa trên nền tảng số, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp từ xây dựng hạ tầng công nghệ, phát triển nền tảng phân phối trong nước, số hóa dữ liệu văn hóa đến đào tạo nguồn nhân lực liên ngành… cùng với đó, cần hoàn thiện khung pháp lý về bản quyền, tăng cường bảo hộ tài sản trí tuệ và thúc đẩy liên kết giữa công nghiệp văn hóa với du lịch, truyền thông, thương mại điện tử nhằm tạo ra các chuỗi giá trị kinh tế mới.
Luật Phát triển công nghiệp văn hóa - Cú hích cho kinh tế sáng tạo
Việc xây dựng dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, đồng thời triển khai các chỉ đạo, kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam.
Dự thảo gồm 9 chương áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân trong và ngoài nước tham gia hoặc có liên quan đến hoạt động công nghiệp văn hóa tại Việt Nam.
Theo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, việc xây dựng một đạo luật riêng cho lĩnh vực công nghiệp văn hóa xuất phát từ yêu cầu ngày càng rõ nét của thực tiễn phát triển. Việt Nam sở hữu kho tàng di sản văn hóa vật thể, phi vật thể phong phú; hệ thống di tích, danh lam thắng cảnh, làng nghề truyền thống đa dạng, cùng đội ngũ văn nghệ sĩ, trí thức và lực lượng sáng tạo trẻ năng động. Đây là nguồn “nguyên liệu” đặc biệt cho nhiều lĩnh vực như điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, âm nhạc, xuất bản, trò chơi điện tử, quảng cáo, thiết kế, thời trang, thủ công mỹ nghệ và du lịch văn hóa.
Một trong những điểm nghẽn lớn hiện nay là hệ thống pháp luật về văn hóa còn thiếu tính đồng bộ và hệ thống, thiếu các chính sách mang tính kiến tạo nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế sáng tạo, có khả năng đóng góp lớn vào GDP và tạo việc làm. Các quy định liên quan hiện phân tán ở nhiều luật chuyên ngành như điện ảnh, sở hữu trí tuệ, du lịch, quảng cáo, xuất bản.
Mặc dù Việt Nam đã có nhiều quy định pháp luật liên quan nhưng chưa có một đạo luật tổng thể, đủ khả năng kết nối xuyên suốt các khâu từ sáng tạo, sản xuất đến phân phối và tiêu dùng sản phẩm văn hóa. Vì vậy, việc xây dựng Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được xác định không chỉ nhằm bổ sung một văn bản pháp luật mới mà còn hướng tới một “Luật kiến tạo”, vừa tháo gỡ điểm nghẽn, làm rõ những điểm còn chưa rõ ràng, vừa lấp đầy khoảng trống pháp lý để khơi thông nguồn lực, giải phóng sức sáng tạo, gia tăng hàm lượng văn hóa trong sản phẩm, dịch vụ và bảo vệ thị trường nội địa.
Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa tập trung vào 6 trụ cột chính gồm: Hệ sinh thái sáng tạo, tài sản trí tuệ, nguồn nhân lực, hạ tầng, thị trường và nguồn lực tài chính. Các chính sách được thiết kế thành một chuỗi liên kết từ sáng tạo, sản xuất đến phân phối, tiêu dùng và tái đầu tư, trong đó người sáng tạo, doanh nghiệp và tài sản trí tuệ được đặt ở vị trí trung tâm. Với hệ sinh thái công nghiệp văn hóa, dự thảo hướng tới tăng cường kết nối giữa người sáng tạo, doanh nghiệp, cơ sở đào tạo, quỹ đầu tư, hiệp hội nghề nghiệp và cơ quan quản lý. Nhà nước hỗ trợ chia sẻ dữ liệu, đào tạo kỹ năng, chuyển đổi số, cung cấp công cụ sáng tạo cũng như thử nghiệm có kiểm soát đối với những công nghệ, sản phẩm và mô hình kinh doanh mới. Một nội dung đáng chú ý khác là chính sách đối với tài sản trí tuệ. Theo dự thảo, tài sản trí tuệ sẽ được định danh, số hóa và lập hồ sơ nhằm phục vụ bảo hộ, định giá, giao dịch và thương mại hóa.
Ở lĩnh vực nguồn nhân lực, các chính sách tập trung xây dựng khung năng lực, đổi mới đào tạo theo hướng liên ngành, tăng cường sự kết hợp giữa nghệ thuật, công nghệ và trí tuệ nhân tạo. Người có năng khiếu, nghệ sĩ, nghệ nhân và nguồn nhân lực chất lượng cao sẽ được tạo điều kiện học tập, giảng dạy, nghiên cứu và tiếp cận những cơ chế đãi ngộ phù hợp.
Về hạ tầng, dự thảo đặt mục tiêu phát triển hệ thống công trình văn hóa, không gian sáng tạo, tổ hợp, cụm và khu công nghiệp sáng tạo; đồng thời xây dựng Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia và các nền tảng số dùng chung.
Ở khâu thị trường, dự thảo chú trọng phát triển các sản phẩm giàu bản sắc Việt Nam, tài sản trí tuệ gốc và những sản phẩm trọng điểm; hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng thương hiệu, hình thành sàn giao dịch và mở rộng xuất khẩu.
Đối với tài chính và đầu tư, dự thảo đề xuất cơ chế đồng đầu tư, chia sẻ rủi ro giữa Nhà nước với khu vực tư nhân; áp dụng chính sách ưu đãi về thuế, đất đai, tín dụng, hải quan đối với hạ tầng, doanh nghiệp, startup và cá nhân sáng tạo.
Trả lời báo chí về dự thảo luật, Nghệ sĩ nhân dân Vương Duy Biên, Chủ tịch Hiệp hội Phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam cho rằng, việc xây dựng một đạo luật riêng về công nghiệp văn hóa là rất cần thiết. Đây cũng là bước quan trọng để thể chế hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam. Ông Vương Duy Biên cũng lưu ý, việc xây dựng luật cần khẩn trương nhưng cần thận trọng, lấy ý kiến rộng rãi để bảo đảm tính khả thi và phù hợp với yêu cầu phát triển công nghiệp văn hóa.
Còn theo PGS.TS. Bùi Hoài Sơn, Uỷ viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, dự thảo luật cần lấy ý kiến rộng rãi không chỉ là một bước trong quy trình xây dựng pháp luật mà còn là cơ hội tập hợp trí tuệ của cơ quan quản lý, chuyên gia, văn nghệ sĩ, doanh nghiệp, nhà đầu tư và cộng đồng sáng tạo.
Theo dự kiến, Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa sẽ được trình Quốc hội xem xét tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI vào tháng 10-2026. Nếu được thông qua, Luật được kỳ vọng sẽ tạo dựng hành lang pháp lý đồng bộ, toàn diện, tháo gỡ những điểm nghẽn, khơi thông và huy động hiệu quả các nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa; qua đó tạo động lực đưa các giá trị, sản phẩm văn hóa Việt Nam vươn mạnh ra thế giới trong kỷ nguyên mới.