Kinh tế tư nhân Việt Nam trong chặng đường 80 năm xây dựng và phát triển đất nước

Sự chuyển biến mạnh mẽ về tư duy, lý luận, và cơ chế, chính sách của Đảng và Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế tư nhân (KTTN) phát triển, đóng góp quan trọng và thiết thực cho phát triển kinh tế - xã hội (KTXH) Việt Nam trong chặng đường 80 năm (1945-2025) xây dựng và phát triển đất nước.

kttn.png
Kinh tế tư nhân Việt Nam trong chặng đường 80 năm xây dựng và phát triển đất nước (ảnh minh họa). Nguồn: IT

Tuy nhiên, kinh tế tư nhân cũng đã trải qua nhiều nhiều thăng, trầm do thể chế chưa hoàn thiện, nhân lực, tài chính, khoa học công nghệ, quản trị, năng lực cạnh tranh và khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển.

Với việc Nghị quyết 68/NQ-TW (4/5/2025) khẳng định “Kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế”, KTTN Việt Nam đang có cơ hội vàng để tăng tốc, bứt phá, nâng cao năng lực, sức cạnh tranh, vươn tầm quốc tế, góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển trong kỷ nguyên mới – kỷ nguyên giàu mạnh, thịnh vượng, phồn vinh và hạnh phúc.

Kinh tế tư nhân – động lực quan trọng nhất trong kỷ nguyên phát triển mới

TS. Cấn Văn Lực - Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, Thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách của Thủ tướng Chính phủ cho rằng, chủ trương, quan điểm và định hướng của Đảng và Nhà nước về KTTN đã trải qua quá trình đổi mới, chuyển biến mạnh mẽ về tư duy, lý luận, và cơ chế, chính sách, tạo thuận lợi cho KTTN phát triển trong suốt chặng đường 80 năm xây dựng và phát triển đất nước.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề cập đến sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế (kinh tế địa chủ phong kiến, kinh tế quốc doanh, kinh tế hợp tác xã, kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế tư bản quốc gia) trong Tác phẩm "Thường thức chính trị" (9/1953). Trong đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định kinh tế quốc doanh là nền tảng của kinh tế dân chủ mới; kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân là thành phần kinh tế cần thiết cho cuộc xây dựng kinh tế nước nhà, đồng thời nhấn mạnh việc “phát triển các thành phần kinh tế có lợi cho quốc kế dân sinh, dần dần cải tạo các thành phần kinh tế lạc hậu” trong bối cảnh Việt Nam bước vào công cuộc xây dựng nền kinh tế mới sau khi cách mạng thành công.

Cùng với đó, các văn kiện đầu tiên của Đảng cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh như "Lời kêu gọi quốc dân tham gia cứu đói" – Hồ Chí Minh (ngày 28/9/1945); Chỉ thị “Kháng chiến, kiến quốc” của Ban Chấp hành TW Đảng; Bài viết “Sách lược của Việt Minh” – trích trong Hồ Chí Minh Toàn tập; Chính sách công thương năm 1945–1946 đã thể hiện rõ tinh thần huy động mọi tầng lớp nhân dân, không phân biệt giai cấp tham gia vào việc cứu đói (năm 1945), phục vụ quốc dân, củng cố chính quyền cách mạng. KTTN (đặc biệt là tư sản dân tộc, tiểu thương, nhà buôn) vẫn được khuyến khích hoạt động hướng tới mục tiêu độc lập dân tộc và kiến thiết đất nước.

Đại hội Đảng VI (1986) là dấu mốc quan trọng chính thức công nhận KTTN là một thành phần kinh tế trong nền kinh tế Việt Nam, trong đó, KTTN là khu vực kinh tế ngoài kinh tế Nhà nước, bao gồm 3 thành phần chính: doanh nghiệp tư nhân (DNTN), kinh tế cá thể (hộ kinh doanh) và kinh tế tập thể (chủ yếu là hợp tác xã).

tu-nhan.jpg
Nhiều doanh nghiệp tư nhân có quy mô lớn tại Việt Nam hiện nay. Ảnh: Lộc Liên/Tiền phong

Đặc biệt, Nghị quyết 68/NQ-TW của Bộ Chính trị ngày 4/5/2025 với tư duy đột phá, tạo bước ngoặt lịch sử cho sự phát triển của KTTN; trong đó khẳng định KTTN là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia, là lực lượng tiên phong trong phát triển KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; thúc đẩy tăng trưởng, tạo việc làm, nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng xanh, tuần hoàn, bền vững.

Đồng thời, Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh vai trò quan trọng của KTTN: “KTTN không chỉ giúp mở rộng sản xuất, thương mại, dịch vụ mà còn góp phần quan trọng trong việc nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và gia tăng năng lực cạnh tranh quốc gia. Sự vươn lên mạnh mẽ của nhiều DNTN Việt Nam không chỉ làm chủ thị trường nội địa mà còn khẳng định thương hiệu trên thị trường quốc tế. Điều này chứng tỏ rằng, nếu có môi trường phát triển thuận lợi, DN Việt Nam hoàn toàn có thể vươn xa, cạnh tranh sòng phẳng với thế giới”.

TS. Cấn Văn Lực chia sẻ, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm, tạo điều kiện cho phát triển kinh tế. “Trong nhiều hội nghị, chúng tôi nhận được câu hỏi: tại sao Việt Nam tăng trưởng khá cao, 7–7,5%, nhưng vẫn phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ?”. TS. Cấn Văn Lực cho rằng, có ba lý do quan trọng: Thứ nhất, nếu không bứt phá, Việt Nam sẽ rơi vào bẫy thu nhập trung bình, bởi tăng trưởng kinh tế những thập niên gần đây có xu hướng chậm lại.

Thứ hai, chúng ta rất nhiều nguồn lực, nhưng cũng quá nhiều rào cản cần tháo gỡ, cải cách mạnh mẽ để tạo nền tảng tăng trưởng nhanh và bền vững.

Thứ ba, hiện nay Việt Nam đang ở thế “thiên thời, địa lợi, nhân hòa”: Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ đều quyết tâm cải cách, đổi mới. Đây là cơ hội “bây giờ hoặc không bao giờ”.

“Nhìn về tương lai, câu hỏi lớn đặt ra: 20 năm tới, chúng ta có đạt mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước công nghiệp phát triển, thu nhập cao hay không? Theo báo cáo của chúng tôi gửi Đảng, Nhà nước, giai đoạn 2026–2030, nếu tăng trưởng đạt 9–10%/năm, và giai đoạn 2031–2045 duy trì 8%/năm, thì đến năm 2045, Việt Nam hoàn toàn có thể đạt mức thu nhập bình quân 22.700 USD (đã tính yếu tố lạm phát và điều chỉnh quốc tế)”, TS. Cấn Văn Lực chia sẻ.

Để phát triển bền vững TS. Cấn Văn Lực kiến nghị ba nguyên tắc: Không đánh đổi môi trường, xã hội, văn hóa; Kiểm soát lạm phát dưới 5%; Tăng trưởng phải thực chất, hiệu quả.

Về mô hình tăng trưởng, Ngân hàng Thế giới khuyến nghị 3 bước: Đầu tư – nhập khẩu công nghệ – đổi mới sáng tạo. TS. Cấn Văn Lực cho rằng Việt Nam cần thực hiện đồng thời cả ba: Tăng đầu tư hiệu quả, hấp thụ công nghệ nước ngoài, đồng thời đẩy mạnh sáng tạo.

Về các đột phá chiến lược, bên cạnh ba trọng tâm đã triển khai (thể chế, nhân lực, hạ tầng), giai đoạn tới cần bổ sung hai đột phá mới: Khoa học – công nghệ và chuyển đổi số; Chống lãng phí, thực hành tiết kiệm. Thực tế hiện có gần 3.000 dự án, với tổng vốn khoảng 6 triệu tỷ đồng; nếu tháo gỡ, sẽ tạo động lực rất lớn cho phát triển.

Bản sắc kinh tế tư nhân Việt Nam

Đối với kinh tế tư nhân, từ thực tiễn 80 năm qua, TS. Cấn Văn Lực cho biết, có ba giá trị cốt lõi: “Nhỏ dài” – quản trị dựa trên văn hóa gia đình, tạo nền tảng bền vững; “Phát ra” – tự vươn lên, đồng thời tham gia góp ý chính sách; “Chủ nghĩa dân tộc” – coi tự hào dân tộc là động lực phát triển, hội nhập quốc tế.

kinh-te-tu-nhan5-15-17-50abc-1746472197730950383192.jpg

Nếu 80 năm trước, doanh nhân Việt Nam gắn với “bốn chữ C” (chịu thương, chịu khó, chắt chiu, lấy công làm lãi), thì nay có thể khái quát bằng “bốn chữ T”: Tốc độ, thông tuệ, tự tin, thị ứng. Đây chính là điểm khác biệt nổi bật, phản ánh tinh thần doanh nhân trong kỷ nguyên hội nhập.

“Chặng đường 80 năm kinh tế tư nhân đã chứng minh sức sống mãnh liệt; bước vào giai đoạn mới, đây sẽ tiếp tục là động lực quan trọng nhất để đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững, thực hiện thành công mục tiêu đến năm 2045”, TS. Cấn Văn Lực nhấn mạnh.

Bảy kiến nghị, giải pháp phát triển KTTN Việt Nam

Chặng đường 80 năm xây dựng và phát triển kinh tế đất nước cũng là chặng đường đồng hành, đóng góp tích cực của KTTN. Mặc dù trải qua nhiều thăng trầm song đến nay, quan điểm, nhận thức về vai trò của khu vực KTTN đã được quán triệt thống nhất trong toàn thể hệ thống chính trị, các cấp, các ngành. Theo đó, KTTN là một động lực quan trọng nhất trong nền kinh tế quốc gia, là lực lượng nòng cốt trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN tại Việt Nam; tư tưởng "trọng công hơn tư" được loại bỏ, nhất quán quan điểm của Đảng và Nhà nước là “phục vụ, trân trọng” thay vì định kiến, hẹp hòi, mở ra kỷ nguyên mới cho phát triển KTTN, góp phần xây dựng nền kinh tế tự chủ, tự lực, tự cường, đưa Việt Nam trở thành quốc gia có thu nhập trung bình cao năm 2030 và thu nhập cao năm 2045.

Bảy kiến nghị phát triển KTTN trong giai đoạn 2026-2030 và kỷ nguyên mới: Thứ nhất, đẩy nhanh hoàn thiện thể chế, tạo môi trường đầu tư - kinh doanh thuận lợi, lành mạnh, bình đẳng giữa các thành phần kinh tế.

Thứ hai, thúc đẩy quá trình chuyển đổi hộ kinh doanh thành DN.

Thứ ba, giải pháp hỗ trợ công nghệ, tài chính, tiếp cận đất đai, chuyển đổi xanh và số của khu vực tư nhân.

Thứ tư, triển khai quyết liệt, hiệu quả cải thiện thực chất môi trường đầu tư - kinh doanh.

Thứ năm, quan tâm hỗ trợ khối tư nhân về thông tin định hướng, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, về thông tin thị trường, dự báo thị trường, bối cảnh…

Thứ sáu, bản thân DN, HKD cần đổi mới tư duy, nâng cao năng lực quản trị.

Cuối cùng, cần chuẩn hóa thông tin, số liệu thống kê, báo cáo về các khu vực kinh tế nói chung và KTTN nói riêng để có thể hỗ trợ đắc lực cho quá trình ra quyết sách, quản trị và điều hành.

Xem thêm

Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu: Không vượt tổng mức vốn khi xây trường nội trú liên cấp biên giới

Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu: Không vượt tổng mức vốn khi xây trường nội trú liên cấp biên giới

(CLO) Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu quán triệt việc tháo gỡ khó khăn xây trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới đất liền phải bảo đảm không vượt tổng mức vốn đã cân đối, thực hiện điều tiết linh hoạt giữa các địa phương. Đồng thời phân bổ nguồn lực công bằng, tiết kiệm,xử lý dứt điểm các vướng mắc trong tháng 11/2026.

Nhận diện 5 “điểm nghẽn”, kích hoạt 4 trụ cột công nghệ cho vùng dân tộc thiểu số và miền núi

Nhận diện 5 “điểm nghẽn”, kích hoạt 4 trụ cột công nghệ cho vùng dân tộc thiểu số và miền núi

(CLO) Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang mở ra cơ hội lớn để kinh tế vùng dân tộc thiểu số và miền núi bứt phá. Trước 5 điểm nghẽn về hạ tầng, dữ liệu và nhân lực cơ sở, Bộ Khoa học và Công nghệ đã đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm đưa vùng dân tộc thiểu số tham gia sâu vào chuỗi giá trị bền vững.

Phát huy vai trò các Câu lạc bộ “Phụ nữ dân tộc thiểu số với pháp luật” ở Phú Thọ: Đưa kiến thức pháp lý vào nhịp sống bản làng

Phát huy vai trò các Câu lạc bộ “Phụ nữ dân tộc thiểu số với pháp luật” ở Phú Thọ: Đưa kiến thức pháp lý vào nhịp sống bản làng

(CLO) Thông qua việc lồng ghép khéo léo các quy định về bình đẳng giới, phòng chống bạo lực gia đình vào sinh hoạt văn hóa, văn nghệ tại cơ sở, mô hình Câu lạc bộ “Phụ nữ dân tộc thiểu số với pháp luật” trên địa bàn tỉnh Phú Thọ đang trở thành điểm tựa vững chắc, giúp chị em vùng cao nâng cao nhận thức, biết tự bảo vệ quyền lợi chính đáng và giữ gìn sự bình yên cho mỗi nếp nhà.

Hiệu quả từ mô hình 'Phiên tòa giả định' tại các trường vùng cao Phú Thọ: Đánh thức ý thức pháp luật trong học sinh dân tộc thiểu số

Hiệu quả từ mô hình 'Phiên tòa giả định' tại các trường vùng cao Phú Thọ: Đánh thức ý thức pháp luật trong học sinh dân tộc thiểu số

(CLO) Thay thế những buổi đọc chép điều luật khô khan bằng hình thức sân khấu hóa trực quan, mô hình “Phiên tòa giả định” đang được triển khai sâu rộng tại các trường Phổ thông Dân tộc nội trú và các trường trung học phổ thông vùng cao tỉnh Phú Thọ. Qua những vụ án mô phỏng sát thực tế về bạo lực học đường, tệ nạn xã hội, ma túy hay tảo hôn, nhận thức pháp luật của học sinh đồng bào dân tộc thiểu số đã có những chuyển biến sâu sắc từ gốc rễ.

Quốc hội bàn sửa Luật Điện lực: Xóa bù chéo giá điện, rạch ròi chính sách hỗ trợ người nghèo

Quốc hội bàn sửa Luật Điện lực: Xóa bù chéo giá điện, rạch ròi chính sách hỗ trợ người nghèo

(CLO) Hôm nay, bên cạnh các dự án luật về tài sản và sở hữu trí tuệ, Quốc hội tập trung thảo luận dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực. Tâm điểm chú ý là đề xuất lộ trình xóa bỏ bù chéo giá điện, tách bạch cơ chế thị trường với chính sách an sinh, đồng thời kiên quyết yêu cầu không chuyển rủi ro đầu tư sang Nhà nước và người tiêu dùng.

Khi sóng 4G và Zalo 'vượt dốc' mang luật về thôn xóm của xã miền núi tại Phú Thọ

Khi sóng 4G và Zalo 'vượt dốc' mang luật về thôn xóm của xã miền núi tại Phú Thọ

(CLO) Không còn bó hẹp trong các buổi họp truyền thống, công tác phổ biến pháp luật vùng cao Phú Thọ đang chuyển mình mạnh mẽ. Nhờ sóng 4G, các nhóm Zalo cộng đồng và Infographic trực quan do cán bộ cơ sở thực hiện, kiến thức pháp luật đã thực sự "vượt dốc" về thôn xóm, giúp đồng bào vùng dân tộc thiểu số bảo vệ quyền lợi và ổn định cuộc sống.

Coi mục tiêu tăng trưởng hai con số là nhiệm vụ chính trị để xếp loại chất lượng cán bộ

Coi mục tiêu tăng trưởng hai con số là nhiệm vụ chính trị để xếp loại chất lượng cán bộ

(CLO) Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng nhấn mạnh, phải coi việc phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số là nhiệm vụ chính trị để đánh giá, xếp loại chất lượng tổ chức Đảng và cán bộ; đồng thời giao những bài toán cụ thể cho từng địa phương, bảo đảm rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm. 

Ủy ban Kiểm tra Trung ương giám sát việc thực hiện Nghị quyết 57 tại Lào Cai

Ủy ban Kiểm tra Trung ương giám sát việc thực hiện Nghị quyết 57 tại Lào Cai

(CLO) Ngày 2/11, Đoàn giám sát số 140 của Ủy ban Kiểm tra Trung ương do ông Phạm Thái Hà, Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương làm Trưởng đoàn đã có buổi làm việc với Ban Thường vụ Tỉnh ủy Lào Cai về công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Bộ tiêu chí đo lường hạnh phúc người dân của Hà Nội có gì đặc biệt?

Bộ tiêu chí đo lường hạnh phúc người dân của Hà Nội có gì đặc biệt?

(CLO) UBND TP Hà Nội vừa ban hành Bộ tiêu chí và Phương pháp khảo sát, đo lường Chỉ số hạnh phúc của người dân Thủ đô giai đoạn 2026–2030. Hà Nội thiết lập công cụ đo lường quy chuẩn nhằm chuyển trọng tâm quản trị từ việc đo đếm thành tích sang đo lường sự hài lòng và chất lượng sống thực tế của người dân.

Nghiên cứu khoa học nông nghiệp phải có địa chỉ ứng dụng cụ thể

Nghiên cứu khoa học nông nghiệp phải có địa chỉ ứng dụng cụ thể

(CLO) Về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thúc đẩy tăng trưởng ngành nông nghiệp - khu vực phía nam, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng yêu cầu mọi nhiệm vụ phải hướng tới kết quả cụ thể, có địa chỉ ứng dụng, có khả năng nhân rộng và đóng góp thực chất vào phát triển ngành nông nghiệp.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Khẩn trương đề xuất nâng tầm chiến lược phát triển logistics Việt Nam

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Khẩn trương đề xuất nâng tầm chiến lược phát triển logistics Việt Nam

(CLO) Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh khẩn trương rà soát và đề xuất nâng tầm chiến lược phát triển logistics Việt Nam; phải đặt chiến lược trong tổng thể các yêu cầu phát triển mới của đất nước, nhất là mục tiêu tăng trưởng hai con số và xây dựng năng lực cạnh tranh quốc gia.

Cỡ chữ bài viết: