Chiều 24/10, Quốc hội thảo luận tại tổ về Dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa.
Văn hóa tham gia hình thành chuỗi giá trị
Phát biểu tại tổ, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng nhấn mạnh đây là luật mới, liên quan đến công nghiệp văn hóa. Dự thảo quy định các chính sách phát triển sản phẩm mang bản sắc Việt Nam, sản phẩm trọng điểm, hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã, xây dựng thương hiệu quốc gia, sàn giao dịch và thúc đẩy tiêu dùng sản phẩm văn hóa.
Theo Thủ tướng, chính sách cần chuyển từ chú trọng bảo tồn sang kết hợp phát huy giá trị văn hóa với khai thác tiềm năng kinh tế, tạo động lực tăng trưởng.
Giá trị sản phẩm không chỉ nằm ở sản phẩm ban đầu mà còn ở khả năng phát triển sản phẩm phái sinh, chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ, mở rộng thị trường và hình thành chuỗi giá trị.
“Chẳng hạn, điện ảnh, hoạt hình, trò chơi điện tử có thể phát triển trên nhiều nền tảng, thị trường, đồng thời thúc đẩy du lịch, thương mại và dịch vụ công nghệ số” – Thủ tướng nêu.
Về chính sách tài chính, hỗ trợ và ưu đãi đầu tư, Thủ tướng ghi nhận sự đồng tình của đại biểu đối với việc bổ sung các chính sách ưu đãi đặc thù nhằm phát triển công nghiệp văn hóa.
Thủ tướng cho biết sẽ rà soát kỹ đối tượng được hưởng ưu đãi đầu tư, chính sách thuế và các quy định hiện hành để bảo đảm thống nhất với pháp luật về công nghiệp công nghệ số, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Đối với chính sách hỗ trợ không hoàn lại một phần chi phí phát sinh tại Việt Nam, sẽ tiếp tục làm rõ tiêu chí xác định giá trị gia tăng trong nước, cơ chế thẩm định chi phí, phòng ngừa hỗ trợ trùng lặp và đánh giá hiệu quả sau hỗ trợ.
Các tiêu chí quyết định đối tượng, mức và thời hạn ưu đãi cần đủ rõ; cần nghiên cứu cơ chế đánh giá độc lập định kỳ, công khai danh mục dự án được hỗ trợ và kết quả thực hiện.
Việc hỗ trợ phải hướng vào những hoạt động tạo lợi ích công và sức lan tỏa như phát triển dữ liệu dùng chung, đào tạo kỹ năng, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, nâng cao khả năng tiếp cận thị trường quốc tế và xúc tiến xuất khẩu.
Hiệu quả chính sách cần được đo bằng năng lực cạnh tranh của sản phẩm văn hóa, doanh thu bản quyền, khả năng xuất khẩu và thu nhập của người sáng tạo, thay vì chỉ dựa vào số lượng công trình, khu, cụm được thành lập.
Thủ tướng cho biết trên cơ sở ý kiến của đại biểu Quốc hội, Chính phủ sẽ tiếp tục chỉ đạo rà soát, hoàn thiện các chính sách, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, xác định đúng đối tượng thụ hưởng và sử dụng hiệu quả nguồn lực hỗ trợ phát triển công nghiệp văn hóa.
Ngăn trục lợi ưu đãi
Cũng góp ý về Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn (Đoàn Hải Phòng) quan tâm về các ưu đãi hạ tầng, đất đai và tài chính và đề nghị các ưu đãi phải gắn với sản phẩm đầu ra, ngăn nguy cơ chuyển hóa chính sách văn hóa thành ưu đãi bất động sản.
Theo đại biểu Sơn, Dự án Luật quy định tổ hợp sáng tạo, cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa được hỗ trợ, ưu đãi cho hạ tầng, cụm, khu và hoạt động sản xuất sản phẩm công nghiệp văn hóa.
Đặc biệt, khoản 1 Điều 32 cho dự án đầu tư tại cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa được áp dụng ưu đãi như địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
Đại biểu Sơn đánh giá đây là mức ưu đãi đáng kể, trong khi một số cụm, khu có thể nằm tại vị trí thương mại rất thuận lợi.
Báo cáo thẩm tra đã yêu cầu làm rõ cơ chế thành lập cụm, khu, chuyển mục đích sử dụng đất, điều kiện hưởng ưu đãi và biện pháp ngăn trục lợi.
Đại biểu Sơn đề nghị Luật quy định ngay các điều kiện cốt lõi: tỷ lệ diện tích và doanh thu dành cho hoạt động văn hóa sáng tạo thực chất; cam kết về hoạt động, việc làm, giá trị gia tăng và tiếp cận của cộng đồng; thời hạn kiểm tra và chế tài thu hồi ưu đãi, dự án, đất đai khi không đáp ứng cam kết.
Đối với cơ chế chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời chấp thuận nhà đầu tư tại khoản 6 Điều 18, cần làm rõ giới hạn áp dụng, tính công khai, cạnh tranh và sự thống nhất với pháp luật về đầu tư, đất đai, đấu thầu.
“Không thể chỉ dựa vào tên gọi “khu công nghiệp sáng tạo văn hóa” để mặc nhiên hưởng ưu đãi đặc biệt” – đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn nhấn mạnh.
Dự thảo dành Chương VI và VII quy định về thị trường, chính sách tài chính, hỗ trợ và ưu đãi đầu tư. Đại biểu Sơn đề nghị hỗ trợ đúng các hoạt động tạo giá trị và sức lan tỏa như phát triển dữ liệu dùng chung, đào tạo kỹ năng, bảo vệ quyền, tiếp cận thị trường quốc tế và xúc tiến xuất khẩu.
Đối với khoản 1 Điều 35 về hỗ trợ không hoàn lại một phần chi phí phát sinh tại Việt Nam, cần làm rõ tiêu chí giá trị gia tăng trong nước, cơ chế thẩm định chi phí, chống hỗ trợ trùng lặp và đo lường hiệu quả.
Các tiêu chí quyết định đối tượng, mức và thời hạn ưu đãi cần được quy định rõ trong luật, đồng thời có cơ chế đánh giá độc lập định kỳ, công khai dự án được hỗ trợ và kết quả thực hiện.