Nghề đặt trúm lươn ở Tây Nguyên

Nghề đặt trúm lươn ở Tây Nguyên? Chuyện nghe qua tưởng chừng như vô lý. Đặc trưng nghề nghiệp ở mảnh đất này đâu phải thế ? Nhưng kỳ thực người K’Ho đã gắn bó với nghề này từ xa xưa.

CLO - Nghề đặt trúm lươn ở Tây Nguyên? Chuyện nghe qua tưởng chừng như vô lý. Đặc trưng nghề nghiệp ở mảnh đất này đâu phải thế? Nhưng kỳ thực người K’Ho đã gắn bó với nghề này từ xa xưa.

kb r
Thợ đặt trúm lươn K’Broi đang chuẩn bị đi hành nghề (Ảnh NVCC)

Năn nỉ mãi rồi thì ý định theo chân thợ đặt trúm lươn của tôi cũng đã được chấp thuận. Tuy nhiên, thợ đặt trúm lươn K’Broi, ở thôn 4, xã Đinh Trang Hòa, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng, vẫn nhìn tôi ái ngại: “Nghề này lầm lũi như vạc. Sợ rồi anh không theo nổi!”. Tôi bèn nói đại, cốt để anh yên tâm: “Coi bộ tôi mỏng cơm vậy chớ, chưa biết chừng thợ đặt trúm lươn chuyên nghiệp như bác lại không theo kịp đấy à nghe!”. Nghe vậy, K’Broi cười hiền, bảo: “Thôi, ta đi!”.

Như lệ thường, tầm 3 giờ 30 chiều, dưới sự chỉ dẫn của K’Broi, tôi xách cuốc đi đào giun đất. Còn anh thì nhóm lửa để rang những chú cua đồng đã bắt được từ đêm hôm trước. Trải bao đời nay với vô số những thay đổi, nhưng mồi nhử lươn vẫn chẳng hề đổi thay, vẫn cứ phải là giun đất. “Kỳ công hơn, thợ đặt trúm lươn có thể biến tấu giun đất với cua nướng rồi băm nhuyễn, trộn thành một thứ hỗn hợp có mùi tanh nồng để hấp dẫn lươn hơn. Ngửi thấy mùi này, lươn khó mà cưỡng nổi và sẽ thi nhau chui vào trúm”, K’Broi cho biết.

Theo thợ đặt trúm bắt lươn đêm K’Broi, nghề bắt lươn bằng trúm không cần vốn liếng nhiều, chỉ tốn công và sức. Dụng cụ dùng để bắt lươn cũng hết sức đơn giản và dễ kiếm. Chỉ cần có trên dưới 100 ống lồ ô rồi qua vài ba thao tác nữa là đã có bộ đồ hành nghề. Ống lồ ô sau khi chặt từ rừng về, một đầu thì để nguyên mắt, đầu kia dùng làm miệng trúm. Miệng trúm gắn thêm một cái hom hình phễu để lươn chui vào dễ dàng nhưng không thể thoát ra ngoài. Đầu để nguyên mắt cần đục thông một đôi lỗ nhỏ để cho dóc nước và không khí. “Cũng có nơi người ta làm ống trúm bằng cách đan các nan tre lại với nhau, hoặc làm từ ống nứa, ống nhựa PVC, loại phi 60. Tùy vào điều kiện vùng miền mà nguyên liệu làm ống trúm có thể thay đổi cho phù hợp”, K’Broi thông tin.

Tuy là nghề không cần nhiều vốn, nhưng công việc đặt trúm lại phải có kỹ thuật. Muốn rành rẽ nghề nhất thiết phải học hỏi qua một thời gian. “Con lươn nó tinh khôn lắm! Phải có kinh nghiệm mới bắt được chúng. Ngay cả cái cách đặt trúm thôi cũng phải học. Nếu đặt trúm cạn quá, lươn sẽ không chui vào. Còn đặt sâu dưới lớp bùn, mồi nhử không phát tán được xa để dẫn dụ lươn đến. Ngoài ra, để không bị thất lạc ống trúm, đòi hỏi thợ đặt trúm phải có một trí nhớ tuyệt vời cũng như cách bố trí sơ đồ trúm sao cho thật hợp lý, khoa học”, K’Broi giải thích.

Mồi nhử lươn đã chuẩn bị xong. Tôi và anh thi nhau thả mồi vào ống trúm. Trước đó, K’Broi đã phải rửa sạch ống trúm và cài lại hom cho chắc chắn. Mọi việc đâu đã vào đấy, anh bèn chất gần 100 ống trúm vào một cái bao tải, rồi buộc chặt sau chiếc xe gắn máy, bắt đầu hành trình đánh bắt lươn đêm. Tất nhiên, để đánh bắt được lươn nhiều, K’Broi đã phải điều nghiên trước khu vực đặt trúm. Sâu sát, lăn lộn trong nghề nhiều năm cho anh kinh nghiệm: “Lươn thường làm hang trú ngụ ở nơi có nhiều sình lầy sát bờ cỏ ngập nước, gốc cây mấp mé ao hồ, sông suối, đồng ruộng... Cứ nhắm những vị trí đó mà đặt, thể nào cũng bắt được lươn to, có con nặng từ 500 - 700 gram. Trong 15 năm hành nghề đặt trúm, con lươn to nhất tôi từng bắt được có trọng lượng lên đến 900 gram”, K’Broi nói.

Địa bàn hành nghề của K’Broi khá rộng, trải dài hầu khắp các xã của huyện Di Linh, từ xã Gung Ré, Tân Châu, Tân Thượng, Hòa Nam, Hòa Bắc, Hòa Ninh, Đinh Trang Hòa, Đinh Trang Thượng cho đến xã Gia Bắc, Sơn Điền... Trúm lươn là nghề chả hại đến ai, một nghề không có đồng nghiệp, đúng hơn ở mỗi vùng chỉ có một thợ trúm, hoặc đã có người làm trúm rồi, nếu người nào muốn theo nghề, phải sang vùng khác. Nghề đặt trúm gắn liền với bao nỗi vất vả, cực nhọc, nhất là gặp những hôm mưa gió, một nghề thường xuyên phải gội sương, tắm bùn. Tuy vậy, nghề này cũng đem lại thu nhập kha khá cho người làm nghề. Nghề đặt trúm lươn có lúc được, có lúc không. Nhưng dù được dù không, phần lớn thái độ của người làm nghề là khá bình thản. Bởi như K’Broi chia sẻ, đã là của trời cho thì được ngần nào hay ngần ấy, chẳng nên ta thán (khi không được) mà cũng chẳng cần phải quá phấn khích (khi được). Biết bằng lòng là một hạnh phúc. “Hôm gặp may thì kiếm cỡ 5 kg lươn. Hôm tà tà thì được tầm 3 - 4 kg. Gặp hôm xui xẻo không được con nào cũng chả sao. Phải lấy hôm nọ bù cho hôm kia. Chỉ có duy nhất một điều khiến cho thợ trúm yên tâm đó là không bao giờ ế hàng”, anh cho biết và nói thêm: “1 kg lươn loại 1 hiện có giá 200.000 đồng, loại 2 thì bán với giá 160 - 170.000 đồng, loại rẻ nhất cũng phải 100.000 đồng. Cứ gom đủ 10 kg lươn, khoảng 3 đêm đi đặt trúm, vợ tôi lại mang về Bảo Lộc bán cho các nhà hàng”.

Ở chuyến hành nghề với tôi, anh chọn địa bàn xã Sơn Điền. Sơn Điền là địa bàn cư trú của phần lớn bà con dân tộc Nộp, một sắc dân gốc Tây Nguyên, nơi có con suối Đạ Rsa chạy suốt giữa các cánh đồng Bờ Nơm, Đăng Gia, Bó Cao và Con Sỏ. Nhưng K’Broi lại không chọn những cánh đồng này, anh rủ tôi kiếm các ao, hồ, đầm hoang ở Hà Giang, Ka Liêng và Lang Bang, nơi có địa thế cao của Sơn Điền để đặt trúm. Tôi thắc mắc nguyên do tại sao lại có sự kỳ cục như vậy? K’Broi trả lời: “Giờ chỉ những khu vực đi lại khó khăn là còn chỗ cho loài lươn cư ngụ, sinh sản và cũng là địa bàn để thợ trúm hành nghề. Ruộng đồng bây giờ người ta sử dụng tràn lan thuốc trừ sâu, phân bón hóa học, khiến môi trường sinh sống của loài thủy sinh này đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt diệt, thì tìm đâu ra lươn nữa mà đặt!”.

Từ 5 giờ chiều, chúng tôi bắt đầu đi rải trúm. Rải xong gần 100 ống trúm thì trời đã tối om. Trời miền rừng hoang vu, gió thổi chừng như mạnh hơn, sương xuống cũng lạnh và nhiều hơn. Tiếng ếch nhái, tiếng côn trùng bắt đầu kêu rỉ rả. Giữa khung cảnh ấy, K’Broi ngồi bệt ngay vệ cỏ, khoan thai châm một mồi thuốc, lơ mơ trông trời trông đất, mặc cho mình mẩy đang lấm lem bùn và ướt nhoẹt. Chiếc lều tạm che gió sương qua đêm nhanh chóng được chúng tôi dựng lên ngay cạnh hồ nước. Tiếp đó, một bếp lửa cũng được chụm lại để xua đi cái lạnh miền rừng. “Ngày trước, khi con lươn chưa được giá, chẳng cần phải canh giữ làm gì, đặt trúm xong là chạy về nhà ngủ thẳng giấc cho tới 3 giờ sáng thì dậy đi dỡ trúm. Nhưng giờ ăn trộm ghê lắm, canh giữ không cẩn thận là có kẻ gian lẻn đến dốc lươn liền!”, K’Broi cho hay.

Cuộc sống càng ngày càng khó khăn, để có thêm bát cơm, manh áo nuôi vợ con và lo bao khoản chi tiêu trong gia đình, thợ đặt trúm bắt lươn đêm vì thế lại càng phải vất vả hơn, tần tảo khuya sớm hơn. Những nhu cầu tối thiểu của cuộc sống đời thường, như ăn bữa cơm tối cùng vợ con, hoặc giả cả gia đình quây quần bên nhau xem tivi, tám chuyện..., không phải ai cũng được hưởng trọn. Chuyến đi lần này cho tôi hiểu ra rằng, cái nhu cầu tưởng chừng giản đơn ấy, đối với người thợ trúm, nhiều khi lại là một thèm khát.

Có tôi thức canh trúm, nên ăn qua quýt nắm cơm chiều mang theo, nhâm nhi thêm vài chén rượu đế nữa, thợ đặt trúm lươn K’Broi lăn ra ngủ và ít phút sau thì đã ngáy khò khò. Tôi mò mẫn đi kiếm thêm củi, phòng đêm khuya sương xuống lạnh còn có cái mà đốt, rồi ngồi bó gối nhìn về phía ngôi làng miền Thượng, nơi có những ánh điện đang sáng nhập nhòe và thức canh trúm cho tới sáng.

Đến 3 giờ sáng hôm sau, chả cần đánh thức, K’Broi cũng thức giấc đúng giờ như một cái máy. Tôi lọ mọ theo sát chân anh, hồi hộp đi dỡ trúm. Quan sát K’Broi trong công việc, quả y như con vạc, lầm lũi, lặn lội, sũng ướt. Khi nhấc trúm, chả cần nhìn bên trong, anh đã biết trúm nào có lươn, trúm nào không. Trúm có lươn được K’Broi để riêng ra một chỗ, nhằm tránh lẫn lộn với những ống trúm khác. Sau khi thu đủ số trúm, kiểm tra và phân loại lại lần cuối (trúm có lươn bỏ một bên, trúm không có lươn bỏ một bên), thợ đặt trúm lươn K’Broi mới chất ống trúm vào bao tải, buộc chặt nơi yên xe gắn máy để chở về nhà, vẫn cái dáng dấp lầm lũi, khắc khổ như vạc.

Tờ mờ sáng, khi vợ con K’Broi vừa mới trở dậy, đã thấy đống trúm được chúng tôi xếp ngay ngắn giữa sân. Chậm rãi châm thêm một mồi thuốc, anh đánh bệt xuống cạnh đống trúm có lươn (đã để riêng ra từ trước), bắt đầu tháo hom từng cái, đổ vào chậu những con lươn vàng ngậy.

Một vùng quê Tây Nguyên thuần hậu, không thể thiếu hình ảnh những thợ trúm lươn bình dị như K’Broi, cứ chập tối thì mang trúm đi đặt, sáng sớm mai lại lặn lội dỡ trúm đem về, để rồi cứ thế lặng lẽ góp phần làm nên những món ăn thơm lừng, nào là món lươn tẩm bột rán, nào là món lươn nướng vỉ, lươn bọc sả ớt, miến xào lươn, súp lươn, cháo lươn, ruốc lươn, hay món lươn chiên khô bán túi... tại các nhà hàng, siêu thị.

Ghi chép của TRỊNH CHU

Xem thêm

Tuyên Quang: Dấu ấn lịch sử và khát vọng vươn lên trong chuỗi sự kiện 195 năm Ngày thành lập tỉnh Tuyên Quang

Tuyên Quang: Dấu ấn lịch sử và khát vọng vươn lên trong chuỗi sự kiện 195 năm Ngày thành lập tỉnh Tuyên Quang

CLO) Hướng tới mốc son lịch sử đánh dấu hành trình 195 năm hình thành và phát triển (04/11/1831 - 04/11/2026), tỉnh Tuyên Quang tổ chức chuỗi các hoạt động kỷ niệm phong phú và ý nghĩa nhằm ôn lại truyền thống lịch sử hào hùng, tôn vinh những thành tựu toàn diện trên các lĩnh vực, đồng thời khơi dậy niềm tự hào và khát vọng vươn lên mạnh mẽ trong giai đoạn phát triển mới.

Tuyên Quang: Quy tập 14 hài cốt liệt sĩ tại xã Thanh Thủy

Tuyên Quang: Quy tập 14 hài cốt liệt sĩ tại xã Thanh Thủy

(CLO) Trong hai ngày 27 và 28/10, Đội Tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Tuyên Quang phối hợp với cấp ủy, chính quyền, Ban Chỉ huy Quân sự và lực lượng dân quân xã Thanh Thủy tổ chức tìm kiếm, cất bốc, quy tập 14 hài cốt liệt sĩ hy sinh trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc tại khu vực Bình độ 300, thôn Giang Nam, xã Thanh Thủy.

Chuyển đổi số ở Lạng Sơn: Cần giải pháp căn cơ gỡ khó cho lực lượng tuyến đầu

Chuyển đổi số ở Lạng Sơn: Cần giải pháp căn cơ gỡ khó cho lực lượng tuyến đầu

(CLO) Sau sáp nhập, mạng lưới Tổ công nghệ số cộng đồng tại Lạng Sơn đang tích cực "đi từng ngõ, gõ từng nhà" để phổ cập kỹ năng số. Tuy nhiên, rào cản về cơ chế kiêm nhiệm, hạ tầng vùng cao và kinh phí hoạt động eo hẹp đang đặt ra bài toán cần sớm tháo gỡ để chuyển đổi số đi vào chiều sâu.

Gia Lai: Khai thác hơn 117m³ gỗ, củi ở rừng biên giới thi công kênh thủy lợi

Gia Lai: Khai thác hơn 117m³ gỗ, củi ở rừng biên giới thi công kênh thủy lợi

(CLO) Hơn 117m³ gỗ, củi thuộc rừng tự nhiên xã biên giới Ia Mơ (Gia Lai) được khai thác nhằm giải phóng mặt bằng thi công hệ thống kênh nhánh thủy lợi Ia Mơr. Các lực lượng chức năng đang tăng cường giám sát nhằm bảo đảm việc thực hiện đúng quy định, đặc biệt là tại địa bàn vốn phức tạp về tình trạng lấn chiếm, khai thác và phá rừng trái phép.

Lào Cai: Truyền thông dịch vụ trợ giúp xã hội, lan tỏa chính sách an sinh đến cộng đồng

Lào Cai: Truyền thông dịch vụ trợ giúp xã hội, lan tỏa chính sách an sinh đến cộng đồng

(CLO) Nhằm nâng cao nhận thức cộng đồng về chính sách trợ giúp xã hội, Trung tâm Công tác xã hội và Bảo trợ xã hội số 1 tỉnh Lào Cai vừa phối hợp với UBND phường Yên Bái tổ chức Hội nghị truyền thông dịch vụ trợ giúp xã hội năm 2026, góp phần đưa các dịch vụ an sinh đến gần hơn với người dân, nhất là người cao tuổi và các đối tượng có nhu cầu trợ giúp.

Xã Bình Minh tăng cường đối thoại với dân để tháo gỡ mặt bằng dự án nhà ở xã hội cho lực lượng vũ trang

Xã Bình Minh tăng cường đối thoại với dân để tháo gỡ mặt bằng dự án nhà ở xã hội cho lực lượng vũ trang

(CLO) Trước những băn khoăn của người dân về giá đền bù và sai lệch diện tích đất tại Dự án nhà ở cho lực lượng vũ trang, UBND xã Bình Minh vừa tổ chức đối thoại trực tiếp để tháo gỡ. Nhiều giải pháp cụ thể đã được thống nhất triển khai như: rà soát lại nguồn gốc đất, trả lại giấy chứng nhận đã thu và tổng hợp nhu cầu mua nhà ở xã hội của người dân để báo cáo thành phố.

Gia Lai: Kỷ luật hai Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Quân sự cấp xã

Gia Lai: Kỷ luật hai Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Quân sự cấp xã

(CLO) Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Gia Lai quyết định khiển trách ông Phạm Thanh Tùng, Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Quân sự xã Ia Púch và cảnh cáo ông Phạm Văn Tuấn, Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Quân sự xã Ia Chía do vi phạm quy định của Đảng trong kê khai lý lịch cá nhân.

Gia Lai: Thấp thỏm dưới chân núi sạt lở, hàng trăm hộ dân mong ngày an cư

Gia Lai: Thấp thỏm dưới chân núi sạt lở, hàng trăm hộ dân mong ngày an cư

(CLO) Những vách đất đá sạt lở, căn nhà nứt toác, đổ sập và những mái ấm cửa đóng then cài đang trở thành nỗi ám ảnh của người dân sống quanh núi Một, giữa lòng phố biển Quy Nhơn (Gia Lai). Trước nguy cơ mất an toàn ngày càng hiện hữu, địa phương đề xuất di dời 228 hộ dân, đầu tư khoảng 500 tỷ đồng để xử lý sạt lở, xây dựng khu dân cư mới, giúp người dân ổn định cuộc sống.

Lạng Sơn: Khánh thành “Nhà tắm nhân ái” dành cho người cao tuổi, người khuyết tật

Lạng Sơn: Khánh thành “Nhà tắm nhân ái” dành cho người cao tuổi, người khuyết tật

(CLO) Hướng tới kỷ niệm 195 năm Ngày thành lập tỉnh Lạng Sơn (4/11/1831 – 4/11/2026), Cơ sở Bảo trợ xã hội tổng hợp tỉnh Lạng Sơn đã triển khai công trình “Nhà tắm nhân ái – Chăm sóc an toàn cho người cao tuổi, người khuyết tật”, góp phần cải thiện điều kiện sinh hoạt, nâng cao chất lượng chăm sóc các đối tượng bảo trợ xã hội.

Bắc Ninh: Đã lấy mẫu gần 70% mộ liệt sĩ chưa xác định danh tính

Hơn 2.700 phần mộ liệt sĩ ở Bắc Ninh đã được khai quật, lấy mẫu

(CLO) Thành phố Bắc Ninh đã hoàn thành khai quật, kiểm tra, lấy mẫu tại 2.758 phần mộ liệt sĩ thuộc 215 nghĩa trang, sớm hơn 6,5 tháng so với kế hoạch. Địa phương tiếp tục đẩy mạnh rà soát, xác minh thông tin, quyết tâm nâng cao hiệu quả tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ.

Nghệ An: Đến tận nhà thu nhận mẫu ADN thân nhân liệt sĩ

Nghệ An: Đến tận nhà thu nhận mẫu ADN thân nhân liệt sĩ

(CLO) Đợt này, tỉnh Nghệ An dự kiến thu nhận mẫu ADN của hơn 3.500 thân nhân liệt sĩ chưa xác định được thông tin phần mộ. Ngoài một điểm tập trung, các bộ chiến sĩ công an còn lưu động đến tận nhà thu nhận mẫu đối với những trường hợp đi lại khó khăn.

Cỡ chữ bài viết: