Hội nghị được tổ chức bằng hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến tại 443 điểm cầu với sự tham gia của 13.803 đại biểu. Đồng chí Nguyễn Duy Ngọc, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương chủ trì hội nghị. Cùng dự có đại diện lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương và lãnh đạo các địa phương.
Tạo lập nguồn dữ liệu nền tảng vị trí việc làm đồng bộ
Phát biểu tại hội nghị, đồng chí Hà Minh Hải, Phó trưởng Ban Tổ chức Trung ương nêu rõ Kết luận số 107-KL/TW ngày 17/10/2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện hệ thống vị trí việc làm trong hệ thống chính trị gắn với xây dựng đội ngũ cán bộ và quản lý biên chế. Yêu cầu đặt ra là phải chuyển mạnh từ quản lý biên chế chủ yếu dựa trên số người hiện có sang phương thức quản trị theo chức năng, nhiệm vụ, sản phẩm, vị trí việc làm, yêu cầu năng lực và kết quả thực hiện; đồng thời gắn chặt với phân cấp, phân quyền, chuyển đổi số, tự chủ, xã hội hóa và cơ cấu lại đội ngũ.
Công tác lãnh đạo, chỉ đạo được xác lập đồng bộ, quyết liệt theo nguyên tắc "sáu rõ" (rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền). Ngay sau Hội nghị toàn quốc ngày 22/10/2026 với 3.213 điểm cầu và 56.869 đại biểu, đến ngày 29/10 đã có 34/34 tỉnh, thành ủy và 60/60 cơ quan, đơn vị trực thuộc Trung ương thành lập, kiện toàn ban chỉ đạo, tổ công tác, ban hành kế hoạch thực hiện sát đặc thù từng khối.
Chính phủ đã giao các Bộ xây dựng 5 chuyên đề về các yếu tố tác động đến nhu cầu nhân lực; 14 cơ quan, địa phương đăng ký làm điểm và 25 cơ quan, địa phương kiểm thử thực tế tại 89 đơn vị trực thuộc. Ban Tổ chức Trung ương đã tiếp nhận đầy đủ hồ sơ của 34/34 tỉnh, thành phố và 60 đầu mối Trung ương; bước đầu nhận diện 139 nhóm nghiệp vụ tương đồng và tổng hợp 5.339 tên vị trí việc làm.
Các bộ, ngành đã rà soát 5.704 văn bản quy phạm pháp luật, bóc tách 23.864 quy định giao nhiệm vụ thành 48.446 công việc gắn với sản phẩm. Khối địa phương rà soát 17 lĩnh vực với 3.437 nhiệm vụ, phân rã thành 32.191 công việc, sản phẩm; qua đó làm rõ những nội dung chồng chéo, trùng lặp cần phân cấp, cắt giảm, tự động hóa hoặc thực hiện tự chủ, xã hội hóa.
Công tác kiểm thử thực tế tại Hà Nội, Thanh Hóa, TP.HCM, Lâm Đồng, Bộ Tài chính, Tòa án nhân dân tối cao, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam... khẳng định tính khả thi cao, kế thừa được tới 80% dữ liệu sẵn có. Ban Tổ chức Trung ương cùng các chuyên gia các trường Đại học và Tập đoàn Viettel đã xác lập hoàn chỉnh khung mô hình cơ sở dữ liệu vị trí việc làm thống nhất gồm 5 nhóm dữ liệu liên kết. Ngày 30/10/2026, Ban Tổ chức Trung ương đã báo cáo Bộ Chính trị về tình hình, kết quả bước đầu triển khai Kết luận số 107 và được Bộ Chính trị ghi nhận, đánh giá cao.
Khắc phục hạn chế, dứt khoát không lấy số người hiện có để tính ngược ra khối lượng
Bên cạnh kết quả đạt được, thực tế kiểm thử cho thấy một số hạn chế cần khắc phục: Dữ liệu còn phân tán trong nhiều tệp bảng tính dẫn đến sai lệch mảng, mất liên kết giữa các biểu hoặc thiếu thông tin kiểm chứng. Một số đơn vị còn lúng túng trong xác định sản phẩm, phân nhóm độ phức tạp, đo lường khối lượng, thời gian và xác định tác động của chuyển đổi số. Một số đơn vị kê khai Biểu A1, A2, C1 nhưng bỏ trống phân nhóm độ phức tạp (từ nhóm 1 đến nhóm 6) và phân khúc tải, danh mục sản phẩm chuẩn; chưa điền đủ khối lượng tại Biểu B1 và chưa lượng hóa giờ tiết kiệm do chuyển đổi số tại Biểu B2. Vẫn còn tâm lý lấy số người hiện có để suy ngược ra khối lượng công việc.
Thực tiễn đặt yêu cầu, xác định nhu cầu nhân lực phải bám sát Kết luận số 40-KL/TW của Bộ Chính trị trên nguyên tắc sắp xếp, bố trí và sử dụng chung nhân lực, nhất là với các công việc, vị trí việc làm có tính chất tương đồng; không tính riêng nhu cầu cho từng đầu mối khi có thể làm chung, kiêm nhiệm, tránh làm tăng biên chế. Cổng kê khai trực tuyến là công cụ chuẩn hóa quy trình, nhưng tính đúng đắn của dữ liệu hoàn toàn do cơ quan kê khai, cơ quan đầu mối và người có thẩm quyền chịu trách nhiệm kiểm tra, kiểm chứng.
Đối với đơn vị sự nghiệp công lập, rà soát vị trí việc làm phải xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ, sản phẩm dịch vụ công và yêu cầu năng lực; kế thừa các định mức chuyên ngành còn phù hợp. Phân biệt rõ nhân lực theo nguồn kinh phí, mức độ tự chủ và nhiệm vụ do Nhà nước giao, đặt hàng; không áp dụng máy móc một định mức thời gian cho mọi lĩnh vực; không đồng nhất số người tính toán theo công thức với số biên chế hưởng lương từ ngân sách nhà nước, tránh tính trùng người quản lý kiêm nhiệm chuyên môn hoặc tính trùng khối lượng công việc đã chuyển giao.
Yêu cầu trọng tâm khi kê khai và vận hành hệ thống trực tuyến là phân công rõ đầu mối, quản lý tài khoản và phân quyền đúng thẩm quyền; kế thừa tối đa dữ liệu đã có; bảo đảm tính liên kết thống nhất qua quy trình 8 bước, 9 biểu nghiệp vụ; dứt khoát không lấy số người hiện có để tính ngược ra khối lượng. Đồng thời chú trọng phân rã nhiệm vụ thành công việc gắn với sản phẩm đo đếm được tại Biểu A2, tránh chia tách quá nhỏ vụn vặt. Kiểm tra chặt chẽ chất lượng dữ liệu từ nguồn, đối chiếu sản lượng với thời gian và phân định minh bạch dữ liệu. Thực hiện nghiêm túc chế độ báo cáo tuần, báo cáo tháng trên hệ thống; bảo đảm tuyệt đối an toàn thông tin, chấp hành nghiêm các quy định về bảo vệ bí mật nhà nước và dữ liệu cá nhân.
Tạo nền tảng thực chất để xác định nhu cầu nhân lực, xây dựng phương án biên chế
Tại hội nghị, lãnh đạo Vụ Tổ chức - Điều lệ (Ban Tổ chức Trung ương) đã trao đổi, hướng dẫn, tháo gỡ một số khó khăn, vướng mắc trong kê khai, tổng hợp vị trí việc làm của các địa phương, cơ quan, đơn vị. Chuyên gia của Tập đoàn Viettel tập huấn, báo cáo biểu mẫu thống kê từ hệ thống báo cáo trực tuyến và sử dụng Cổng kê khai, tổng hợp vị trí việc làm trực tuyến. Các đại biểu cũng được giới thiệu các clip hướng dẫn kê khai của Tòa án nhân dân tối cao, Ban Tổ chức Trung ương, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, thành phố Hà Nội và nghe một số địa phương chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn.
Phát biểu kết luận hội nghị, đồng chí Nguyễn Duy Ngọc đánh giá cao tinh thần học tập, trao đổi, thảo luận của các đại biểu. Đồng chí lưu ý việc cấp tài khoản, quản lý tài khoản và quy trình sử dụng tài khoản phải hết sức chặt chẽ, tuyệt đối tránh việc cho mượn tài khoản hoặc để người không có thẩm quyền, trách nhiệm sử dụng tài khoản.
Đồng thời, công tác an ninh, an toàn và bản quyền phần mềm phải được kiểm định chặt chẽ, bảo đảm tuyệt đối an ninh, an toàn thông tin và đăng ký quyền tác giả, sở hữu trí tuệ; bắt buộc phải bảo đảm chặt chẽ theo các quy định của Luật Dữ liệu. Đồng chí Nguyễn Duy Ngọc bày tỏ tin tưởng việc hoàn thành cơ sở dữ liệu vị trí việc làm "đúng, đủ, sạch, sống" cho toàn hệ thống chính trị sẽ sớm hoàn thành, tạo nền tảng thực chất để xác định nhu cầu nhân lực, xây dựng phương án biên chế giai đoạn 2027 - 2031, phục vụ công tác quản trị, điều hành và tham mưu chiến lược của Bộ Chính trị.