Tại Việt Nam, ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật không đơn thuần là số hóa tài liệu mà là một chương trình đổi mới toàn diện về thể chế, dữ liệu, quy trình và trách nhiệm.
AI hỗ trợ công vụ
Chia sẻ tại Diễn đàn Pháp luật ASEAN 2026 diễn ra ngày 18 và 19-8, ông Trần Anh Tú, Phó Cục trưởng Cục Công nghệ số và trí tuệ nhân tạo Bộ KHCN, cho biết Việt Nam đã bước đầu hình thành hành lang pháp lý đồng bộ cho việc ứng dụng và quản trị AI.
Khung pháp lý trụ cột với các Luật Trí tuệ nhân tạo (2025), Luật Dữ liệu (2024), Luật Chuyển đổi số (2025) và Nghị định 142/2026/NĐ-CP… đã được hình thành, xác lập cách tiếp cận lấy con người làm trung tâm, quản lý AI theo mức độ rủi ro và quy định thử nghiệm có kiểm soát (sandbox).
Hiện, Bộ Tư pháp đang hoàn thiện Đề án Cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật và ứng dụng AI nhằm chuyển từ "kho văn bản" sang "hạ tầng dữ liệu quản lý vòng đời văn bản".
Ông Trần Anh Tú cho biết năm 2026, Việt Nam đã chuyển từ giai đoạn "thử công cụ" sang đánh giá bài bản theo chuẩn chung. Sau khi thiết lập Bộ tiêu chí thống nhất và thành lập Hội đồng đánh giá đa ngành, 2 nền tảng AI hỗ trợ công vụ đã được tuyển chọn để thử nghiệm diện rộng.
Quy mô triển khai tại tất cả Bộ, cơ quan ngang Bộ và địa phương, phục vụ 12.004 tài khoản cán bộ, công chức và hỗ trợ giải quyết 14.817 câu hỏi nghiệp vụ.
“AI phát huy hiệu quả rõ rệt ở các tác vụ có thể kiểm chứng trực tiếp với văn bản gốc như: phát hiện sai sót về thể thức, kỹ thuật trình bày, viện dẫn; kiểm tra hiệu lực, căn cứ pháp lý và hỗ trợ tìm kiếm điều, khoản” – ông Trần Anh Tú cho biết.
Tuy nhiên, vẫn có giới hạn nhất định, hệ thống không đưa ra kết luận pháp lý tự động và tuyệt đối không thay thế chuyên gia. Kết quả do AI tạo ra chỉ có giá trị tham khảo.
Ảnh: Hoàng Huy
4 trụ cột triển khai chuyển đổi AI có kiểm soát
Theo Phó Cục trưởng Trần Anh Tú, có 4 nhóm công việc AI có thể hỗ trợ bao gồm rà soát hệ thống văn bản, rút ngắn vòng phản hồi, tổng hợp dữ liệu thi hành, nâng cao khả năng tiếp cận.
Tuy nhiên, ứng dụng AI cũng đem lại các rủi ro cần kiểm soát như thiếu dữ liệu, độ chính xác, rò rỉ dữ liệu, bị tấn công, sử dụng sai mục đích, phụ thuộc nhà cung cấp…
Để hiện đại hóa toàn diện công tác xây dựng và thi hành pháp luật, Việt Nam xác định chiến lược triển khai theo 4 trụ cột chính.
Thứ nhất, dữ liệu và kiến trúc dùng chung, áp dụng nguyên tắc "kiến trúc trước, dự án sau". Dữ liệu pháp luật chính thức, mã định danh, dịch vụ xác định hiệu lực và truy xuất nguồn phải dùng chung toàn quốc để tránh tình trạng mỗi đơn vị dùng một nguồn dữ liệu gây ra sự sai lệch.
Thứ hai, danh mục bài toán và lộ trình triển khai, ưu tiên triển khai ngay các nhiệm vụ rủi ro thấp, dễ kiểm chứng (tra cứu nguồn, kiểm tra hiệu lực, so sánh phiên bản, tổng hợp ý kiến). Đối với nhóm bài toán rủi ro cao (đánh giá tác động chính sách, so sánh giải pháp, soạn thảo quy phạm), chỉ thử nghiệm thận trọng trong phạm vi hẹp với dữ liệu giả lập.
Thứ ba, bảo đảm chất lượng, kiểm soát và trách nhiệm, áp dụng "cổng kiểm soát" 4 lớp (Dữ liệu nguồn, An toàn kỹ thuật, Độ chính xác đầu ra và Hiệu quả nghiệp vụ). Mức độ giám sát của con người phải tương xứng với rủi ro. Quy trình phải lưu vết nguồn dữ liệu, mô hình và người phê duyệt.
Thứ tư, năng lực tổ chức và hệ sinh thái phối hợp, tăng cường phối hợp liên ngành giữa chuyên gia pháp luật, chính sách, dữ liệu và AI. Trang bị cho cán bộ pháp luật kỹ năng kiểm chứng nguồn, nhận diện rủi ro thiên lệch (bias) và bảo vệ dữ liệu.
Bên cạnh đó, ông Trần Anh Tứ nhấn mạnh kết quả do AI tạo ra không tự làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ; không thay thế ý kiến thẩm định hay quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền.
Hợp tác ASEAN về AI trong pháp luật
Theo ông Trần Anh Tú, tại Diễn đàn Pháp luật ASEAN 2026, Việt Nam đề xuất 3 hướng hợp tác thực chất, tự nguyện giữa các nước thành viên.
Thứ nhất, hình thành mạng lưới chuyên môn ASEAN về AI trong pháp luật và tư pháp nhằm chia sẻ báo cáo hiện trạng, các trường hợp ứng dụng thực tiễn và tổ chức các chương trình đào tạo.
Thứ hai, xây dựng phương pháp đánh giá tham chiếu tự nguyện, tập trung vào nguyên tắc trách nhiệm của con người, tính minh bạch, khả năng kiểm chứng nguồn chính thức và xây dựng thư viện tình huống kiểm thử chung.
Thứ ba, thí điểm công cụ pháp lý đa ngôn ngữ, thử nghiệm công cụ tra cứu, tiếp cận và so sánh thông tin pháp luật trong 1–2 lĩnh vực giao dịch xuyên biên giới (bản dịch AI chỉ mang tính chất tham khảo, không thay thế nguồn pháp luật quốc gia).
“AI không thay thế con người trong hoạt động xây dựng pháp luật. Giá trị của AI là giúp cơ quan, người có thẩm quyền sử dụng dữ liệu tốt hơn, phát hiện vấn đề sớm hơn và ra quyết định có căn cứ hơn. Việt Nam sẵn sàng cùng ASEAN xây dựng nguyên tắc sử dụng AI an toàn, tin cậy và triển khai một số sáng kiến chung” -ông Trần Anh Tú nói.