Sáng 18-8, tại Hà Nội, Bộ Tư pháp Việt Nam tổ chức khai mạc Diễn đàn Pháp luật ASEAN 2026, với chủ đề "Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật trong kỷ nguyên số".
Ứng dụng AI tại Việt Nam
Trong phiên thảo luận về “Ứng dụng AI trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam: thực trạng, thách thức và triển vọng”, Phó Cục trưởng Cục Công nghệ số và Trí tuệ nhân tạo, Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam Trần Anh Tú cho biết nhu cầu ứng dụng AI ở Việt Nam trước hết xuất phát từ áp lực nghiệp vụ.
Theo thông tin Bộ Tư pháp công bố khi nghiên cứu trợ lý AI rà soát văn bản, hệ thống pháp luật có hơn 60.000 văn bản còn hiệu lực, gồm gần 9.000 văn bản cấp trung ương và khoảng 50.000 văn bản cấp địa phương.
Ứng dụng AI trong công tác pháp luật ở Việt Nam đã bước đầu được triển khai thử nghiệm. Hiện nay, AI phát huy hiệu quả rõ hơn đối với những công việc mà kết quả có thể được kiểm tra, đối chiếu trực tiếp với văn bản gốc.
Trợ lý AI phục vụ rà soát văn bản đang được thử nghiệm với ba nhóm chức năng chính: phát hiện sai sót về thể thức, kỹ thuật trình bày và viện dẫn; kiểm tra hiệu lực, căn cứ pháp lý và các văn bản được tham chiếu; hỗ trợ tìm kiếm điều, khoản, điểm và văn bản có liên quan.
Kết quả bước đầu cho thấy hệ thống hỗ trợ tìm kiếm, kiểm tra nguồn và thu hẹp phạm vi chuyên gia phải rà soát. Hệ thống chưa đưa ra kết luận pháp lý tự động và không thay thế chuyên gia.
Mức độ trưởng thành có thể phân tích theo ba cấp độ: hỗ trợ tác vụ; hỗ trợ quy trình nghiệp vụ; hỗ trợ quản trị toàn bộ vòng đời pháp luật.
“Việt Nam đã có kết quả bước đầu ở cấp độ thứ nhất, đang tiến tới cấp độ thứ hai; cấp độ thứ ba là định hướng dài hạn. Thách thức hiện nay là kết nối pháp luật, dữ liệu, công nghệ và quy trình thành năng lực vận hành thống nhất, có thể kiểm chứng và có chủ thể chịu trách nhiệm” – ông Trần Anh Tú nói.
Đây là cơ sở quan trọng để từng bước hình thành nguồn dữ liệu pháp luật chính thức, có chất lượng và có khả năng kết nối, chia sẻ, phục vụ công tác xây dựng, tổ chức thi hành pháp luật và phát triển các công cụ AI.
Trong giai đoạn tới, Việt Nam tập trung xây dựng dữ liệu và kiến trúc dùng chung; lựa chọn các bài toán phù hợp; tổ chức kiểm thử, đánh giá theo mức độ rủi ro; xác định rõ trách nhiệm của các chủ thể có liên quan. Đồng thời nâng cao năng lực phối hợp giữa đội ngũ pháp luật, chính sách, dữ liệu và công nghệ.
“Ứng dụng AI phải lấy nâng cao chất lượng thể chế làm mục tiêu; rút ngắn thời gian xử lý và nâng cao năng suất là kết quả đạt được trên cơ sở đó” - ông Trần Anh Tú nhấn mạnh.
Câu chuyện pháp lý từ Nhật Bản
Chia sẻ kinh nghiệm của Nhật Bản, ông Yuki Yamada, Phó trưởng phòng Hợp tác quốc tế, Văn phòng bộ trưởng, Bộ Tư pháp Nhật Bản cho biết theo Điều 72 Luật Luật sư Nhật Bản, về nguyên tắc, những người không được cấp phép hành nghề luật sư bị cấm cung cấp các dịch vụ pháp lý có thu phí; hành vi vi phạm quy định này có thể bị áp dụng chế tài hình sự. Do đó, mối quan hệ giữa các dịch vụ công nghệ pháp lý và Điều 72 đã trở thành một vấn đề pháp lý quan trọng cần được xem xét.
Trong bối cảnh đó, Bộ Tư pháp Nhật Bản đã thành lập một Nhóm công tác vào tháng 3 năm 2026, do Thứ trưởng Bộ Tư pháp đứng đầu. Nhóm công tác đang nghiên cứu khuôn khổ pháp lý phù hợp đối với công nghệ pháp lý ứng dụng AI trong lĩnh vực kinh doanh.
Hiện nay, Bộ Tư pháp Nhật Bản đang chuẩn bị ban hành hướng dẫn giải thích mới về mối quan hệ giữa các dịch vụ công nghệ pháp lý ứng dụng AI và Luật Luật sư trong lĩnh vực kinh doanh.
Bên cạnh đó, Bộ cũng đang xây dựng các hướng dẫn bao gồm những thực tiễn quản trị được khuyến nghị đối với các nhà cung cấp dịch vụ công nghệ pháp lý ứng dụng AI.
Hợp tác để thích ứng với quản trị AI
Ông Yoshitaka Watanabe. Trưởng ban Chính sách pháp lý tại ERIA (Viện Nghiên cứu Kinh tế ASEAN và Đông Á), cho rằng đối với các quốc gia ASEAN, trong khi tìm kiếm cơ hội từ AI, chúng ta cũng cần hiểu rõ những gì AI có thể và không thể làm, những rủi ro mà nó mang lại, làm thế nào để sử dụng nó một cách thích hợp.
Nhiều quốc gia trong ASEAN đang cân nhắc xây dựng AI quốc gia và luật về AI. Có lẽ với tư cách là một khu vực, chúng ta có thể hợp tác nhiều hơn để thích ứng với quản trị AI này, bao gồm cả các vấn đề kỹ thuật và các vấn đề hoạch định chính sách. Chúng ta có thể hợp tác để tăng cường và thúc đẩy việc áp dụng AI.
“Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên trên thế giới ban hành luật về AI, tôi hy vọng Việt Nam có thể dẫn đầu. Là một khu vực, ASEAN có rất nhiều tiềm năng trong việc ứng dụng các công nghệ này, bao gồm cả các vấn đề quản trị và an ninh” – ông Yoshitaka Watanabe nói và cho rằng việc các nước ASEAN áp dụng hợp tác khu vực và các mô hình AI khu vực có thể là điều tốt.
Ông gợi ý Singapore hoặc Việt Nam có thể xây dựng một mô hình chung của khu vực sử dụng các mô hình tiên tiến lớn. ASEAN nên hướng tới sự hợp tác lẫn nhau về chiến lược thay vì tự chủ hoàn toàn. Và AI có thể hợp tác trong một số khía cạnh như xây dựng năng lực, phát triển nhân tài và xây dựng mô hình AI khu vực.
Điều này có thể là một nền tảng tốt để các quốc gia khác sử dụng, từ đó phát triển các mô hình mang tính nội địa và phù hợp với bối cảnh địa phương của quốc gia mình. “Bằng cách hợp tác trong ASEAN, họ có thể xây dựng các mô hình khu vực tốt hơn” - ông Yoshitaka Watanabe nhấn mạnh.