Quyết sách lịch sử và tầm nhìn kinh tế xanh
Trước đây, Nghị quyết số 45-NQ/TW ngày 24/01/2019 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Hải Phòng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã xác định rõ mục tiêu xây dựng Hải Phòng trở thành thành phố công nghiệp phát triển hiện đại, văn minh, sinh thái; là trung tâm kinh tế biển, logistics và thương mại quốc tế tầm vĩ mô.
Để hiện thực hóa tầm nhìn chiến lược đó, Nghị quyết số 30-NQ/TW ngày 23/11/2022 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Đồng bằng sông Hồng tiếp tục nhấn mạnh việc thí điểm các cơ chế, chính sách vượt trội cho Hải Phòng nhằm tạo động lực lan tỏa toàn vùng. Tinh thần chỉ đạo của Trung ương đã trở thành kim chỉ nam để thành phố Cảng chủ động, sáng tạo trong việc đề xuất và triển khai các không gian phát triển mới.
Trong bức tranh tổng thể đó, Hải Phòng đã thể hiện tư duy quy hoạch đa trung tâm mang tính đột phá: Nếu Khu kinh tế chuyên biệt Hải Phòng quy mô 5.300 ha được xác định là "trái tim" công nghiệp công nghệ cao phía Tây thành phố, thì Khu kinh tế ven biển phía Nam chính là "cánh cửa" rộng mở vươn ra thế giới.
Hai khu kinh tế này tạo nên thế "sông - biển hợp lưu", hình thành cặp đôi động lực song hành để thành phố Cảng khẳng định vai trò cực tăng trưởng chủ đạo của vùng Đồng bằng sông Hồng.
Tầm vóc của bản quy hoạch này không phải là kết quả ngẫu nhiên, mà là kết tinh của một quá trình chuẩn bị công phu, khoa học. Việc thành lập Khu kinh tế ven biển phía Nam Hải Phòng, sẽ cùng Khu kinh tế chuyên biệt, tạo thành một hệ thống các mô hình kinh tế mới có tính đột phá, khẳng định tầm nhìn chiến lược của Trung ương đối với Hải Phòng.
Khu kinh tế ven biển phía Nam Hải Phòng có quy mô khoảng 20.000 ha, bao gồm toàn bộ xã Hùng Thắng, xã Chấn Hưng và một phần các xã: Nghi Dương, Kiến Hưng, Kiến Hải, An Hưng, Tiên Minh, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Vĩnh Am, Nam Đồ Sơn. Quy hoạch được thực hiện theo hai giai đoạn: ngắn hạn đến năm 2035 và dài hạn đến năm 2050.
Điểm nhấn quan trọng nhất của quy hoạch là định hướng phát triển không gian theo mô hình lấy Khu thương mại tự do làm trung tâm, phát triển công nghiệp, dịch vụ gắn với hệ thống cảng sông, cảng biển, phát triển các khu đô thị và dân cư gắn với phát triển công nghiệp và dịch vụ.
Không gian Khu kinh tế được hình thành trên hệ thống sông ngòi mặt nước tự nhiên và hệ thống khung giao thông đa phương thức, được quy hoạch hướng biển, tạo nên một cấu trúc phát triển hiện đại và bền vững.
Với mục tiêu dân số đến năm 2035 khoảng 195.000 người và đến năm 2050 khoảng 350.000 người, cùng diện tích xây dựng các khu chức năng đến năm 2035 khoảng 10.500 ha và đến năm 2050 khoảng 15.630 ha, Khu kinh tế ven biển phía Nam được định hướng trở thành động lực tăng trưởng kinh tế chủ đạo của thành phố Hải Phòng; là trung tâm kinh tế biển, tạo động lực phát triển cho vùng đồng bằng sông Hồng và vùng duyên hải Bắc Bộ.
Đây là khu kinh tế sinh thái thế hệ mới, phát triển theo mô hình tăng trưởng xanh, kinh tế tuần hoàn, phát triển bền vững, có vai trò đổi mới, tiên phong, có chức năng hỗ trợ, kết nối với các khu kinh tế ven biển khác.
Sự vượt trội mang tính đột phá nằm ở mô hình tổ chức không gian lãnh thổ hiện đại. Điểm nhấn trung tâm là cấu trúc phân chia 6 phân khu chức năng có tính liên kết hữu cơ:
Phân khu 01 có diện tích khoảng 2.923 ha tại xã Chấn Hưng và Hùng Thắng, dân số 85.000 người, chính là hạt nhân Khu thương mại tự do thế hệ mới. Phân khu này áp dụng các thể chế ưu đãi đặc biệt, phát triển công nghiệp công nghệ cao, logistics xanh và các dịch vụ tài chính thương mại đẳng cấp quốc tế.
Phân khu 02 quy mô khoảng 3.613 ha là khu vực phát triển mở rộng phía Đông Nam, nơi quy hoạch cảng hàng không Tiên Lãng - đầu mối giao thông hàng không trọng điểm, hình thành "hành lang sáng tạo" tích hợp các trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D), công viên sinh thái và trung tâm triển lãm quốc tế.
Phân khu 03 quy mô khoảng 4.486 ha, tập trung phát triển hệ thống Cảng Nam Đồ Sơn - một cảng xanh, thông minh và cảng miễn thuế gắn liền với mạng lưới đường bộ, đường sắt và logistics hiện đại.
Phân khu 04 diện tích khoảng 3.195 ha nằm ở phía Bắc sông Văn Úc, định hướng phát triển công nghiệp công nghệ cao gắn với cụm cảng sông.
Phân khu 05 rộng khoảng 2.964 ha ở phía Tây Bắc và Phân khu 06 rộng khoảng 2.819 ha ở phía Tây đóng vai trò là các đô thị dịch vụ mới, trung tâm nghiên cứu chuyển giao công nghệ, nông nghiệp công nghệ cao và các khu công nghiệp sinh thái, bảo đảm cân bằng môi trường sống cho lực lượng lao động chất lượng cao.
Mở rộng hạ tầng, vươn tầm quốc tế
Việc triển khai Quy hoạch chung Khu kinh tế ven biển phía Nam song hành cùng Khu kinh tế chuyên biệt Hải Phòng là bước cụ thể hóa sinh động các chủ trương lớn của Bộ Chính trị. Trong đó, trực tiếp nhất là Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 08/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Nghị quyết 10-NQ/TW đã thẳng thắn chỉ ra những hạn chế của giai đoạn trước như chất lượng thu hút FDI chưa tương xứng, tỷ lệ nội địa hóa chưa cao, liên kết giữa khu vực FDI và doanh nghiệp trong nước còn yếu; từ đó yêu cầu chuyển mạnh sang thu hút FDI có chọn lọc, ưu tiên công nghệ cao, kinh tế số, kinh tế xanh.
Đặt chuỗi kinh tế Hải Phòng trong lăng kính của Nghị quyết 10-NQ/TW mới thấy hết giá trị thực tiễn. Việc kết nối Khu kinh tế chuyên biệt ở phía Tây (nơi tập trung sản xuất công nghiệp công nghệ cao, trung tâm đổi mới sáng tạo) với Khu kinh tế ven biển phía Nam (nơi sở hữu Khu thương mại tự do, hệ thống cảng biển Nam Đồ Sơn và sân bay Tiên Lãng) tạo thành một chuỗi giá trị khép kín. R&D và sản xuất công nghệ cao tại Khu kinh tế chuyên biệt sẽ được xuất - nhập khẩu và thông quan siêu tốc thông qua hạ tầng logistics và cơ chế miễn thuế của Khu thương mại tự do phía Nam.
Để hiện thực hóa tầm nhìn này, hệ thống hạ tầng kinh tế kỹ thuật tại Khu kinh tế ven biển phía Nam được quy hoạch rất bài bản. Về phát triển công nghiệp, quy hoạch ấn định 09 khu công nghiệp với tổng diện tích khoảng 3.633 ha và 05 cụm công nghiệp với diện tích 275 ha, toàn bộ áp dụng mô hình sinh thái.
Về hậu cần logistics, 03 trung tâm logistics hiện đại được bố trí chiến lược tại Tiên Lãng (100 ha), cảng Nam Đồ Sơn (200 - 300 ha) và khu vực phía Nam (200 ha). Hạ tầng kỹ thuật phụ trợ được tính toán với tầm nhìn xa: nhu cầu cấp điện đến năm 2050 lên tới 1.686,21 MW; nhu cầu cấp nước đạt 168.000 m³/ngày đêm; đi kèm hệ thống xử lý chất thải hiện đại, bảo đảm tiêu chí phát thải thấp.
Năng lực kết nối đa phương thức của khu vực này được coi là độc nhất vô nhị tại miền Bắc, với sự kết hợp giữa đường cao tốc ven biển, 02 tuyến đường sắt quốc gia, 02 tuyến đường sắt đô thị, cảng biển nước sâu Nam Đồ Sơn và cảng hàng không quốc tế Tiên Lãng.
Đặc biệt, giá trị cốt lõi của các mô hình kinh tế mới tại Hải Phòng chính là định hướng tăng trưởng xanh, thông minh và phát triển bền vững. Hải Phòng đã cụ thể hóa định hướng này bằng Kế hoạch số 359/KH-UBND hướng tới mục tiêu đi đầu cả nước về chuyển đổi số toàn diện giai đoạn 2026 - 2030, đẩy mạnh ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong quản trị hành chính và vận hành các khu công nghiệp thông minh.
Chiến lược phát triển này trực tiếp biến các quyết sách của Trung ương thành động lực tăng trưởng. Có thể khẳng định, việc thành lập Khu kinh tế chuyên biệt và phê duyệt Quy hoạch chung Khu kinh tế ven biển phía Nam Hải Phòng đến năm 2050 là những quyết sách mang tầm vóc lịch sử. Đây không chỉ là công cụ pháp lý quan trọng để triển khai các dự án đầu tư, mà còn là minh chứng cho quyết tâm của Hải Phòng trong việc kiến tạo một không gian tăng trưởng mới, xứng tầm với vị thế và tiềm năng của thành phố Cảng.
Từ những quyết sách đúng đắn của Trung ương, Hải Phòng đang tự tin bước vào kỷ nguyên phát triển mới, khẳng định vị thế trung tâm kinh tế biển hàng đầu, góp phần đưa đất nước tự tin tiến sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.