Bẫy thu nhập trung bình: 'Dấu hỏi' lớn của kinh tế Việt Nam

Trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 – 2030 đã đặt ra mục tiêu: Phấn đấu đến năm 2030, Việt Nam trở nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và xác định tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao.

Tuy nhiên, để trở thành nước có thu nhập cao, Việt Nam phải đối mặt với “bẫy thu nhập trung bình”. Một số quan điểm cho rằng, nhiều quốc gia có nền kinh tế đi trước, hiện vẫn đang mắc kẹt trong thu nhập trung bình. Vì vậy, để chinh phục mục tiêu này không hề bằng phẳng.

bay thu nhap trung binh dau hoi lon cua kinh te viet nam hinh 1

Ông Nguyễn Quốc Việt, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu kinh tế và Chính sách. (Ảnh: DDDN)

Trao đổi với phóng viên Báo Nhà báo và Công luận, ông Nguyễn Quốc Việt, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu kinh tế và Chính sách (VEPR), Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội cho rằng: Sau gần 40 năm Đổi mới, Việt Nam chuyển mình từ quốc gia có thu nhập thấp, sang quốc gia có thu nhập trung bình tương đối dễ dàng và thành công. Tuy nhiên, để chuyển sang quốc gia có thu nhập cao là một câu chuyện hoàn toàn khác.

Việt Nam Đổi mới “thành công”

Sau gần 40 năm Đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã thay đổi ngoạn mục, từ quốc gia có thu nhập thấp trở thành quốc gia có thu nhập trung bình và đứng thứ 35 trong nhóm 40 nền kinh tế lớn nhất thế giới. Trước sự chuyển mình này, ông đánh giá thế nào về tốc độ tăng trưởng của kinh tế Việt Nam?

- Gần 40 năm là một quá trình đủ dài để tạo ra sự thay đổi khác biệt mà chỉ bằng mắt thường cũng có thể nhận ra. Kể từ khi Đổi mới, kinh tế Việt Nam đã có bước nhảy vọt rất mạnh, từ một nước có thu nhập thấp, phụ thuộc chủ yếu vào nông nghiệp, chuyển mình trở thành nước có thu nhập trung bình với nền công nghiệp và thương mại đang dần hoàn thiện. 

Sự thành công của kinh tế Việt Nam được thể hiện rõ qua các con số thống kê. Cụ thể, trong giai đoạn 2010 - 2019, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đạt 6,6%/năm. 

Cũng trong 40 năm đó, nền kinh tế Việt Nam đã phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức, từ cuộc khủng hoảng tài chính châu Á vào năm 1997, cho tới đợt suy thoái kinh tế toàn cầu vào năm 2007 - 2008. Dù vậy, những khó khăn đó không làm khó được chúng ta. 

Cho tới khi đại dịch COVID-19 xuất hiện (2020 - 2021), nền kinh tế thế giới và cả Việt Nam bị rung lắc dữ dội. Có lẽ, đại dịch COVID-19 chính là thử thách lớn nhất trong quá trình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam.

Đại dịch cũng khiến, tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam có phần chậm lại. Cụ thể, GDP năm 2020 tăng 2,91% và năm 2021 ghi nhận mức tăng 2,58%. 

Tới năm 2022, dịch bệnh về cơ bản được kiểm soát, thế nhưng, thế giới tiếp tục đối mặt với các vấn đề mới khác nảy sinh, như xung đột địa chính trị, chuỗi cung ứng bị đứt gãy, lạm phát, tiêu dùng toàn cầu suy giảm,...

Tất cả những yếu tố này đã tạo thành “cú bồi” thứ hai, tác động tiêu cực tới nền kinh tế Việt Nam. Dù vậy, vượt qua những khó khăn kể trên, GDP Việt Nam ghi nhận mức tăng cao, với 8,02% trong năm 2022.

Tôi cho rằng, trong gần 40 năm Đổi mới, Việt Nam rất chú trọng quá trình tái cơ cấu nền kinh tế, cải cách thể chế, cải cách chất lượng nguồn nhân lực, song song với đó, là đẩy nhanh quá trình mở cửa, hội nhập sâu với nền kinh tế thế giới. Các giải pháp này đã tạo tiền đề cho nền kinh tế duy trì tăng trưởng ổn định và phục hồi sau đại dịch COVID-19 nhanh chóng.

Năm 2020, Việt Nam chính thức gia nhập vào các nước có thu nhập trung bình. Và tới đầu năm 2024, GDP bình quân đầu người của Việt Nam đạt mức 4.500 USD/người, thuộc nhóm thu nhập trung bình cao.

bay thu nhap trung binh dau hoi lon cua kinh te viet nam hinh 2

Sau gần 40 năm Đổi mới, Việt Nam chuyển mình từ quốc gia có thu nhập thấp, sang quốc gia có thu nhập trung bình tương đối dễ dàng và thành công. (Ảnh: ST)

Với sự tăng trưởng ngoạn mục trong gần 40 năm Đổi mới, theo ông, Việt Nam có thể hoàn thành được mục tiêu trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 – 2030, tầm nhìn tới 2045 hay không?

- Hiện nay, với thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam đạt mức 4.500 USD, chúng ta đã hoàn thành được một nửa, đó là trở thành nước có thu nhập trung bình cao. Để đạt được những mục tiêu còn lại, Việt Nam cần phải cố gắng, nỗ lực hơn nữa để tạo ra các xung lực đủ mạnh để thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng ổn định, bền vững và phù hợp với mô hình tăng trưởng mới.

Theo một số nghiên cứu, để trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045, tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam phải đạt bình quân 7%/năm, theo tôi mức tăng trưởng này khá thách thức.

Bởi, từ nay tới năm 2045 còn hơn 20 năm nữa, đây là một chặng đường dài để đưa ra dự báo. Trong 20 năm này, kinh tế Việt Nam có thể đối mặt với những rủi ro, thách thức mới phát sinh và không thể dự báo từ trước, như quá trình biến đổi khí hậu, thiên tai, lũ lụt hoặc các diễn biến bất thường từ thế giới. Do đó, đưa ra dự báo ở thời điểm này có phần vội vàng.

Tuy nhiên, trong 5 - 6 năm tới, tức là tới năm 2030, nếu vẫn giữ được nhịp tăng trưởng như hiện tại và không có biến động mạnh giống như đại dịch COVID-19, tôi tin rằng kinh tế Việt Nam vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng khá theo đúng mục tiêu của Đảng và Nhà nước đã đề ra. Tôi kỳ vọng, trong giai đoạn này (2025 - 2030), GDP Việt Nam sẽ tăng trưởng ổn định trong khoảng 6 - 7%/năm.

Tuy nhiên, để đạt duy trì tốc độ tăng trưởng từ 6% - 7% đến năm 2030 , Việt Nam cần phải lưu ý một số rủi ro đang âm ỉ tồn tại và phải tìm ra các giải pháp khắc phục, giảm thiểu các tác động tiêu cực từ các rủi ro này.

Thứ nhất là các rủi ro đến từ thế giới, như căng thẳng địa chính trị, xung đột vũ trang, lạm phát,... Các rủi ro này có thể gây ra hiện tượng đứt gãy chuỗi cung ứng, gây biến động giá cả đầu vào trong sản xuất. Từ đó ảnh hưởng đến các hoạt động kinh tế đối ngoại cũng như các hoạt động sản xuất, kinh doanh ở trong nước.

Thứ hai là các rủi ro cố hữu của nền kinh tế. Ví dụ, Việt Nam chưa thực sự bứt phá nhiều trong một số cải cách thể chế để tạo ra sự đổi mới sáng tạo, tạo ra năng suất và hiệu quả tốt hơn.

Quá trình chuyển dịch nền kinh tế sang những mô hình tăng trưởng mới, gắn với tăng trưởng xanh vẫn còn tương đối chậm. Chưa kể, nền kinh tế dựa vào tín dụng và hệ thống ngân hàng rất là lớn, hơn 50% nguồn lực cung cấp vốn cho nền kinh tế dựa vào hệ thống tín dụng. Điều này cho thấy, chúng ta chưa đa dạng hóa được các nguồn lực cho tăng trưởng và phát triển dài hạn.

bay thu nhap trung binh dau hoi lon cua kinh te viet nam hinh 3

GDP bình quân đầu người của Việt Nam đang dao động từ 4.300 - 4.500 USD/người, xếp thứ 6 trong ASEAN. (Ảnh: ST)

Cẩn trọng với “bẫy thu nhập trung bình”

Một số quan điểm cho rằng, một trong những rào cản lớn nhất của Việt Nam để trở thành quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045, đó chính là “bẫy thu nhập trung bình”. Ông có quan điểm thế nào về vấn đề này?

- Hiện nay, các tổ chức nghiên cứu kinh tế trong và ngoài nước chưa có sự thống nhất về các số liệu thống kê. Tuy nhiên, nhìn chung, GDP bình quân đầu người của Việt Nam đang dao động từ 4.300 - 4.500 USD/người, xếp thứ 6 trong ASEAN.

Trong khu vực ASEAN, hiện mới có 2 quốc gia vượt bẫy thu nhập trung bình thành công, đó là Singapore (khoảng 88.000 USD/người) và Brunei (khoảng 35.000 USD/người).

Ba quốc gia khác có thu nhập bình quân đầu người cao hơn Việt Nam, nhưng vẫn mắc kẹt ở mức thu nhập trung bình, bao gồm Malaysia (khoảng 13.000 USD/người), Thái Lan (gần 8.000 USD/người) và Indonesia (khoảng 5.200 USD/người).

Cả ba nền kinh tế này đi trước chúng ta khá lâu, nền kinh tế của họ cũng được đánh giá thị trường hơn, cởi mở hơn, nhưng tới nay họ vẫn loay hoay tìm cách vượt bẫy thu nhập trung bình. Điều này cho thấy, quá trình vượt qua bẫy thu nhập trung bình không phải là dễ.

Quay trở lại với Việt Nam, chúng ta đang có nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình khá lớn.

Thứ nhất, mặc dù kinh tế Việt Nam tăng trưởng ổn định trong nhiều năm qua, song vẫn dựa trên mô hình tăng trưởng cũ, phụ thuộc vào tài nguyên, nhân công giá rẻ, FDI,...

Trong khi đó, các mô hình tăng trưởng mới, như tăng trưởng xanh, tăng trưởng dựa vào công nghệ, đổi mới sáng tạo, mô hình tăng trưởng dựa trên thực lực của nền kinh tế, đặc biệt là nền sản xuất của các doanh nghiệp trong nước vẫn còn hạn chế.

Thứ hai, chúng ta đẩy mạnh quá trình cải cách thể chế, nhưng chưa đủ mạnh. Các doanh nghiệp trong nước vẫn chưa thể cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài, thậm chí khó cạnh tranh ngay trên “sân nhà”. Năng suất lao động, ý thức và trình độ lao động của Việt Nam vẫn còn thấp so với khu vực Đông Nam Á.

Chưa kể, trong 10 năm nữa, Việt Nam có thể đối mặt với tình trạng già hóa dân số. Nếu chúng ta không tận dụng được khoảng thời gian hiện nay, giai đoạn “dân số vàng” để nâng cao trình độ, nâng cao kỹ năng nghề nghiệp, chất lượng của người lao động Việt Nam, thì rất khó để vượt bẫy thu nhập trung bình.

Tóm lại, liệu Việt Nam có thể trở thành quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045 vẫn còn nhiều dấu hỏi. Cá nhân tôi không thể trả lời dứt khoát được liệu đạt được hay không đạt được.

Tuy nhiên, nếu Việt Nam có thể nhận thức đúng đắn các rào cản đang gặp phải, để tạo ra sự cải cách triệt để hơn, quyết tâm thực hiện hơn, và có những chính sách sáng tạo, đột phá trong gian tới, chúng ta mới vượt được bẫy thu nhập trung bình.

Xin cảm ơn ông!

Xem thêm

EU dựng thêm loạt 'rào chắn', hàng Việt đứng trước 'bài kiểm tra' mới

EU dựng thêm loạt 'rào chắn', hàng Việt đứng trước 'bài kiểm tra' mới

(CLO) EU tiếp tục nâng chuẩn đối với hàng hóa nhập khẩu, từ phát thải carbon, bao bì đến truy xuất nguồn gốc và phòng vệ thương mại. Trong bối cảnh xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường này vẫn tăng trưởng tích cực, các quy định mới đang đặt doanh nghiệp trước “bài kiểm tra” về năng lực đáp ứng tiêu chuẩn xanh và khả năng duy trì lợi thế cạnh tranh.

Tiền mã hóa – lối thoát của Iran giữa vòng vây trừng phạt

Tiền mã hóa – lối thoát của Iran giữa vòng vây trừng phạt

(CLO) Iran đang chuyển hướng sang sử dụng tiền mã hóa để duy trì dòng chảy thương mại trong bối cảnh xung đột và chịu sức ép phong tỏa từ Mỹ, đồng thời nới lỏng một số biện pháp kiểm soát ngoại tệ nghiêm ngặt nhằm đối phó với các lệnh trừng phạt ngày càng siết chặt.

Việt Nam - Liên bang Nga thúc đẩy hợp tác tài chính, mở thêm dư địa cho doanh nghiệp

Việt Nam - Liên bang Nga thúc đẩy hợp tác tài chính, mở thêm dư địa cho doanh nghiệp

(CLO) Trong khuôn khổ chuyến thăm cấp Nhà nước tới Liên bang Nga của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, chiều 8/9 (giờ địa phương), tại Trụ sở Bộ Tài chính Liên bang Nga, Bộ trưởng Bộ Tài chính Việt Nam Ngô Văn Tuấn đã có buổi làm việc song phương với Bộ trưởng Tài chính Liên bang Nga Anton Germanovich Siluanov.

Pin lưu trữ: Giải pháp mới giảm áp lực cho lưới điện công nghiệp

Pin lưu trữ: Giải pháp mới giảm áp lực cho lưới điện công nghiệp

(CLO) Việc EVNNPC đưa các hệ thống BESS đầu tiên vào vận hành tại trạm biến áp 110 kV đánh dấu bước thử nghiệm công nghệ lưu trữ trên lưới điện phân phối. Giải pháp này được kỳ vọng hỗ trợ điều tiết phụ tải, giảm nguy cơ quá tải cục bộ tại những khu vực có nhu cầu điện công nghiệp lớn.

Việt Nam – EU: Cam kết hai chiều để nâng chất dòng vốn

Việt Nam – EU: Cam kết hai chiều để nâng chất dòng vốn

(CLO) Vượt qua quy mô hơn 33 tỷ USD hiện hữu, hợp tác đầu tư Việt Nam – EU đang bước vào giai đoạn nâng tầm về chiều sâu công nghệ. Tại tọa đàm sáng 8/9 do Bộ Tài chính tổ chức, hai bên khẳng định Nghị quyết 10-NQ/TW là đòn bẩy cải cách ưu đãi, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và kết nối doanh nghiệp châu Âu với chuỗi giá trị trong nước.

Đà Nẵng thí điểm phát triển kinh tế không gian tầm thấp

Đà Nẵng thí điểm phát triển kinh tế không gian tầm thấp

(CLO) Mở rộng dư địa phát triển lên vùng trời, Đà Nẵng đặt mục tiêu xây dựng hoàn chỉnh hệ sinh thái thử nghiệm, sản xuất và ứng dụng phương tiện bay tầm thấp (UAV) đến năm 2030. Nội dung Đề án vừa được đưa ra thảo luận tại hội thảo do UBND thành phố tổ chức sáng nay (8/9).

Biến năng lượng lãng phí thành 'nguồn tài nguyên' cho tăng trưởng

Biến năng lượng lãng phí thành 'nguồn tài nguyên' cho tăng trưởng

(CLO) Trong bối cảnh nhu cầu năng lượng ngày càng tăng, việc mở rộng nguồn cung không phải là lời giải duy nhất. Giảm lãng phí, nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng đang mở ra một “nguồn tài nguyên” mới cho doanh nghiệp, vừa tiết giảm chi phí sản xuất, nâng cao sức cạnh tranh, vừa góp phần bảo đảm an ninh năng lượng và giảm phát thải.

Khi cả thế giới 'ôm' USD quá chặt

Khi cả thế giới 'ôm' USD quá chặt

(CLO) Các quỹ hưu trí và công ty bảo hiểm trên toàn cầu đang “ôm” lượng lớn tài sản Mỹ nhưng lại giảm mức phòng ngừa rủi ro trước khả năng đồng USD suy yếu. Nếu tâm lý thị trường đảo chiều, việc đồng loạt tăng cường phòng vệ có thể tạo áp lực bán lớn lên đồng bạc xanh.

Lũ quét gây thiệt hại nặng nề, Nepal chật vật tìm nguồn lực phục hồi

Lũ quét gây thiệt hại nặng nề, Nepal chật vật tìm nguồn lực phục hồi

(CLO) Trận lũ quét thảm khốc gần đây đã gây thiệt hại khoảng 5 tỷ USD cho Nepal, tương đương một phần mười tổng sản lượng kinh tế hằng năm. Con số này đang tạo thêm áp lực lớn lên nền kinh tế vốn phụ thuộc nhiều vào kiều hối và vẫn chưa hoàn toàn vượt qua những tổn thất từ trận động đất năm 2015.

Mở “luồng xanh tăng trưởng” cho doanh nghiệp: Nguồn lực phải đến đúng nơi có năng lực, có khả năng tạo giá trị

Mở “luồng xanh tăng trưởng” cho doanh nghiệp: Nguồn lực phải đến đúng nơi có năng lực, có khả năng tạo giá trị

(NB&CL) Muốn tăng trưởng hai con số, nguồn lực phải đến đúng nơi có đơn hàng, có năng lực và có khả năng tạo thêm giá trị. 6 tháng đầu năm 2026, kinh tế Việt Nam tăng 8,18%, nhưng chặng đường tới mục tiêu từ 10% trở lên vẫn còn rất dốc. Theo GS. Trần Thọ Đạt, Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo, Đại học Kinh tế Quốc dân, tăng trưởng chỉ có thể được nâng lên một quỹ đạo mới khi các chính sách hỗ trợ được chuyển thành dòng vốn, mặt bằng, năng lượng, thủ tục và cơ hội thị trường cụ thể cho doanh nghiệp.

Năm 2027: Doanh nghiệp Việt đối mặt cuộc 'sàng lọc' mạnh

Năm 2027: Doanh nghiệp Việt đối mặt cuộc 'sàng lọc' mạnh

(CLO) Dù kinh tế vĩ mô tiếp tục duy trì ổn định, cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam vẫn đối mặt với nhiều sức ép từ chi phí sản xuất, khả năng tiếp cận vốn đến yêu cầu chuyển đổi số, chuyển đổi xanh. Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt, năm 2027 được dự báo sẽ là giai đoạn doanh nghiệp chịu sự sàng lọc mạnh hơn.

Cỡ chữ bài viết: