Hệ thống chính sách mạnh mẽ, nhất quán và liên tục cập nhật đang trở thành "bệ phóng" để du lịch Việt Nam vươn lên trong giai đoạn hậu đại dịch, cạnh tranh mạnh mẽ hơn trên bản đồ du lịch khu vực và thế giới.
“Nhìn thẳng – Nói thật để du lịch xứng tầm là ngành kinh tế mũi nhọn”
Theo số liệu mới nhất của Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam, đà phục hồi của du lịch Việt Nam tiếp tục được củng cố rõ nét trong những tháng cuối năm 2025.
Riêng tháng 11/2025, lượng khách quốc tế đến Việt Nam ước đạt khoảng 1,9 triệu lượt, tăng 14,2% so với tháng trước và tăng 15,6% so với cùng kỳ năm 2024.
Lũy kế 11 tháng, Việt Nam đón khoảng 19 triệu lượt khách quốc tế, tăng 20,9% so với cùng kỳ năm ngoái – một con số cho thấy sức bật đáng kể của ngành sau giai đoạn chịu nhiều tác động nặng nề.
Những kết quả tích cực này không chỉ phản ánh nỗ lực phục hồi của toàn ngành, mà còn đặt ra yêu cầu nhìn nhận thẳng thắn hơn về chất lượng tăng trưởng, năng lực cạnh tranh và tính bền vững của du lịch Việt Nam trong bối cảnh mới.
Khi quy mô thị trường ngày càng mở rộng, câu hỏi đặt ra không chỉ là “tăng bao nhiêu khách”, mà còn là “tăng như thế nào” để du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn như mục tiêu đã được xác định trong các Nghị quyết của Đảng.
Xuất phát từ thực tiễn đó, Báo Nhà báo và Công Luận trân trọng giới thiệu tới quý bạn đọc loạt bài với chủ đề “Nhìn thẳng – Nói thật để du lịch xứng tầm là ngành kinh tế mũi nhọn”. Vệt bài tập trung khắc họa hành trình hồi sinh mạnh mẽ của du lịch Việt Nam, phân tích sâu các chính sách lớn được triển khai trong nhiệm kỳ Đại hội XIII, đồng thời ghi nhận những trăn trở, đề xuất tâm huyết từ các chuyên gia, nhà hoạch định chính sách và cộng đồng doanh nghiệp.
Chúng tôi kỳ vọng, loạt bài sẽ góp thêm một tiếng nói xây dựng, cùng nhìn lại chặng đường đã qua, nhận diện đúng những điểm nghẽn và cơ hội, từ đó xác lập hướng đi phù hợp, tạo động lực để du lịch Việt Nam bứt phá mạnh mẽ hơn, bền vững hơn trong những năm tới.
Phục hồi ngoạn mục: Dấu ấn của sự chủ động và linh hoạt
Nhìn lại chặng đường sau đại dịch, ông Hà Văn Siêu, Phó Cục trưởng Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam (Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch) không giấu được niềm tự hào khi chia sẻ về sự hồi sinh thần tốc của ngành: "Đại dịch COVID-19 tác động nặng nề đến ngành du lịch, đến ngày 15/3/2022 Việt Nam mới chính thức mở cửa hoàn toàn đón khách quốc tế. Từ đó đến nay, ngành du lịch phục hồi tích cực nhờ loạt chính sách chủ động và linh hoạt của Chính phủ. Tính đến năm 2024, Việt Nam đã đón 17,6 triệu lượt khách quốc tế, đạt 98% so với năm 2019”.
Ông Siêu cũng tái khẳng định vai trò then chốt của thị trường nội địa và cho rằng du lịch nội địa đã trở thành "phao cứu sinh" và động lực chính giúp ngành du lịch phục hồi sau đại dịch.
"Ngay từ năm 2023, lượng khách trong nước đã vượt mức năm 2019, nhờ các chính sách kích cầu kịp thời, linh hoạt và hiệu quả của Chính phủ. Những chương trình như 'Người Việt Nam đi du lịch Việt Nam', hỗ trợ doanh nghiệp, người lao động trong ngành, mở lại hàng không nội địa và đảm bảo an toàn du lịch đã mang lại hiệu quả tức thì công suất tại các khu điểm du lịch tăng mạnh, các cơ sở lưu trú, dịch vụ nhanh chóng hoạt động trở lại. Trong bối cảnh du lịch quốc tế chưa mở cửa hoàn toàn, thị trường nội địa đã giữ vai trò then chốt, ổn định ngành và tạo nền tảng cho sự phục hồi bền vững”, đại diện Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam cho hay.
Đại dịch COVID-19 không chỉ khiến ngành du lịch toàn cầu “đóng băng” mà còn định hình lại sâu sắc xu hướng và nhu cầu của du khách. Theo ông Siêu, sự thay đổi này đã buộc ngành du lịch Việt Nam phải chuyển mình mạnh mẽ, từ chiến lược xúc tiến cho đến tư duy phát triển sản phẩm.
“Ngay sau khi kiểm soát dịch, chúng tôi đã đẩy mạnh các chương trình quảng bá điểm đến, giới thiệu sản phẩm mới, phù hợp với thị hiếu mới của du khách. Bởi lẽ, sau COVID-19, nhiều cơ sở dịch vụ thay đổi, xu hướng du lịch chuyển dịch rõ rệt sang các sản phẩm cá nhân hóa, gần gũi thiên nhiên, an toàn cho sức khỏe”, ông Siêu chia sẻ.
Một trong những bước ngoặt quan trọng là chuyển đổi số. Ông Siêu cho hay “Chúng tôi đã đẩy mạnh ứng dụng công nghệ và nền tảng số trong quảng bá, giới thiệu điểm đến cũng như bán các sản phẩm dịch vụ. Du khách có thể đặt tour, phòng khách sạn, vé tham quan trực tiếp qua nền tảng online. Đây là sự thích ứng linh hoạt sau đại dịch, bắt kịp xu thế toàn cầu và hành vi tiêu dùng mới”.
Về chính sách hỗ trợ, ông Siêu đánh giá cao những biện pháp mà Chính phủ triển khai ngay trong giai đoạn khó khăn nhất. Từ việc hỗ trợ người lao động bị ảnh hưởng, hướng dẫn viên mất việc, đến việc tiếp sức cho doanh nghiệp tiếp cận lại thị trường, các chính sách đã phát huy hiệu quả kịp thời và rõ rệt.
Đặc biệt, ông Siêu nhấn mạnh vai trò quyết định của chính sách kích cầu thị trường: “Kết nối thị trường, mở lại dòng khách là sự hỗ trợ thiết thực nhất. Không cần hỗ trợ tài chính trực tiếp, chỉ cần có khách quay lại là doanh nghiệp có thể tự vận hành trở lại. Chính sách kích cầu du lịch nội địa chính là cú hích mang tính sống còn giúp ngành du lịch vượt qua giai đoạn khó khăn và sẵn sàng bứt phá trong giai đoạn phục hồi”.
Đường cong phục hồi: Thành quả của cả hệ thống
PGS.TS Phạm Hồng Long, giảng viên khoa Du lịch học, Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đánh giá: “Du lịch Việt Nam đang phục hồi rất tốt. Nếu lấy năm 2019 làm mốc vàng thời điểm chúng ta đón 18 triệu lượt khách quốc tế thì đến 2025, Việt Nam hoàn toàn có thể chạm ngưỡng 22 đến 23 triệu lượt. Trong khối ASEAN, chỉ có Campuchia vượt mốc trước dịch. Việt Nam đang xếp thứ hai thậm chí tăng tốc nhanh hơn cả những quốc gia từng dẫn đầu như Thái Lan hay Singapore”.
Theo ông Long, những con số ấn tượng ấy không phải phép màu, mà đến từ lựa chọn chính sách đúng và kịp thời của Chính phủ: “Ngay khi dịch được kiểm soát, Việt Nam đã có những cú hích chiến lược như chiến dịch 'Việt Nam – Trải nghiệm trọn vẹn', các gói chính sách kích cầu, chính sách visa thông thoáng… Tất cả đã tạo nền tảng vững chắc để ngành du lịch bật dậy”.
Bên cạnh đó, Việt Nam tận dụng tốt dư địa phục hồi từ các thị trường quốc tế. Khi các quốc gia như Thái Lan, Singapore, Malaysia còn đang điều chỉnh chính sách và chờ đợi thị trường, Việt Nam đã chủ động mở cửa, nối lại đường bay, tăng cường quảng bá điểm đến, đặc biệt là với Hàn Quốc, châu Âu, Ấn Độ. Sự nhanh nhạy ấy giúp chúng ta ‘đón lõng’ dòng khách dịch chuyển.
Không chỉ hồi phục về lượng khách, Việt Nam đang dần định vị lại vai trò trên bản đồ du lịch khu vực.
“Nếu trước 2019, Việt Nam vẫn xếp sau về tốc độ tăng trưởng, thì nay chúng ta đã vượt lên. Trong các thị trường cạnh tranh trực tiếp – Thái Lan, Malaysia, Singapore – Việt Nam đang có lợi thế về nguồn khách, năng lực phục vụ và chất lượng trải nghiệm”, ông Long nhận định.
Đặc biệt, chính sách thị thực là một nút thắt lâu năm đã có chuyển biến tích cực, ông Long cho rằng, trước COVID-19, chính sách visa của chúng ta chưa cạnh tranh được. Nhưng hiện nay, với việc cấp thị thực điện tử cho 13 quốc gia và kéo dài thời hạn lưu trú, Việt Nam đã trở thành điểm đến cởi mở hơn, hấp dẫn hơn.
Tuy vậy, ông Long cũng thẳng thắn: “Nếu so với Singapore hay Thái Lan, chính sách visa của Việt Nam vẫn còn dư địa cải thiện. Chúng ta cần tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục, mở rộng diện miễn thị thực và tạo điều kiện để khách quốc tế cảm thấy thuận lợi, thân thiện ngay từ khâu nhập cảnh”.
Đằng sau con số hàng triệu lượt khách là cả một hệ thống chính sách vận hành nhịp nhàng từ cấp trung ương đến địa phương, từ hạ tầng kỹ thuật đến xúc tiến thị trường.
“Chúng ta đã có sự phối hợp tốt giữa ngoại giao – kinh tế – du lịch. Việc quảng bá, kết nối, phát triển sản phẩm, nâng cấp hạ tầng… đều được đẩy mạnh, đồng thời hướng tới phát triển bền vững,” ông Long phân tích.
Đặc biệt, theo ông Long, sự trở lại mạnh mẽ của du lịch Việt Nam cũng là tín hiệu cho thấy nội lực ngành đang lớn dần: “Chúng ta không còn là điểm đến giá rẻ, mà đang hướng tới chất lượng, trải nghiệm, cảm xúc. Điều này rất quan trọng trong cạnh tranh quốc tế”.
PGS.TS Phạm Hồng Long cho rằng, du lịch Việt Nam đang ở “điểm ngọt” tăng trưởng sau đại dịch. Nhưng để bứt phá thực sự và giữ vững vị thế, cần những bước đi chiến lược dài hơi hơn nữa: Cải cách visa sâu rộng, nâng cao chất lượng dịch vụ, phát triển sản phẩm du lịch có chiều sâu văn hóa, và đặc biệt là đào tạo nguồn nhân lực chuyên nghiệp.
“Chúng ta đang đi đúng hướng. Việc cần làm là duy trì đà này bằng sự kiên định chính sách, linh hoạt hành động và đồng bộ trong thực hiện. Khi ấy, Việt Nam không chỉ phục hồi, mà còn thực sự bứt phá trở thành điểm đến hàng đầu châu Á”, ông Long cho biết thêm.
Ngấm nhưng chưa đủ thấm
Tuy vậy, một số ý kiến cũng cho rằng hiệu quả chính sách chưa lan tỏa đồng đều, đặc biệt ở khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa, các địa phương chưa chủ động truyền thông, hướng dẫn triển khai, dẫn đến việc doanh nghiệp khó tiếp cận hoặc không tận dụng hết ưu đãi được ban hành. Nhiều chuyên gia và đại diện cho rằng, chính sách dù có tốt đến đâu nếu không được thực thi quyết liệt, đồng bộ từ Trung ương đến địa phương thì vẫn sẽ là “chính sách trên giấy”.
Dù đánh giá cao nỗ lực của Chính phủ trong việc hỗ trợ ngành du lịch vượt qua giai đoạn khó khăn, ông Phạm Hà, nhà sáng lập Lux Group vẫn cho rằng ngành du lịch đang rất cần một chiến lược phát triển đồng bộ, dài hơi và sát thực tế hơn.
Ông Hà chia sẻ: “Tôi ghi nhận những chính sách phục hồi ngành du lịch sau COVID-19, nhưng nếu nhìn một cách toàn diện, vẫn còn nhiều hạn chế. Ở thời điểm cam go nhất, không ít doanh nghiệp nhỏ vẫn phải tự xoay xở để tồn tại. So với các nước như Thái Lan nơi có chiến lược bài bản ngay từ đầu chúng ta vẫn còn thiếu một kế hoạch tổng thể để bảo vệ lực lượng lao động và giữ chân doanh nghiệp”.
Theo ông Hà, sự thiếu vắng một chiến lược đồng bộ đã khiến nhiều doanh nghiệp du lịch không thể trụ vững sau đại dịch: “Chính sách có thể được ban hành kịp thời, nhưng lại chưa đến được đúng nơi cần thiết. Nhiều doanh nghiệp nhỏ chưa đủ điều kiện tiếp cận nguồn hỗ trợ, trong khi chi phí vận hành vẫn cao. Điều đó khiến du lịch chưa thể phục hồi thực sự từ gốc”.
Ông Hà cũng bày tỏ mong muốn ngành du lịch được nhìn nhận đúng với vai trò của một ngành kinh tế mũi nhọn: “Chúng ta đã có những quỹ xúc tiến du lịch, nhưng trong suốt thời gian khó khăn, vẫn chưa thấy sự hỗ trợ rõ rệt cho doanh nghiệp. Những chính sách hỗ trợ người lao động và doanh nghiệp dù thiết thực, nhưng thiếu tính liên kết với chiến lược dài hạn”.
Từ kinh nghiệm điều hành doanh nghiệp trong giai đoạn khó khăn nhất, ông Hà tin rằng: “Ngành du lịch Việt Nam có tiềm năng lớn. Nhưng nếu không có tầm nhìn trung và dài hạn từ đào tạo nhân lực đến phát triển sản phẩm và thị trường chúng ta sẽ rất khó giữ được đà phục hồi bền vững”.
Nếu như bài toán mở cửa sau đại dịch đã được giải bằng những quyết sách nhanh, kịp thời và hiệu quả của Chính phủ, thì hành trình phục hồi và phát triển bền vững ngành du lịch lại đặt ra nhiều yêu cầu cấp thiết hơn về tầm nhìn dài hạn và những chính sách “ngấm sâu” đến từng doanh nghiệp.
Ở thời điểm mà các quốc gia trong khu vực đang tăng tốc đầu tư cho ngành kinh tế mũi nhọn, nếu Việt Nam không tạo ra một “cú huých” mới đủ tầm, đủ lực và đủ dài hơi thì lợi thế phục hồi nhanh sẽ sớm bị lu mờ bởi sự thiếu bền vững.
Vậy đâu là kỳ vọng của doanh nghiệp? Làm sao để chính sách không chỉ "đúng lúc" mà còn "đúng chỗ"? Bài viết kỳ sau sẽ đi sâu vào tiếng nói thẳng thắn từ chính những người trong cuộc là các doanh nghiệp du lịch để nhìn rõ hơn những chướng ngại mà ngành cần vượt qua trên hành trình vươn tới tầm cao mới.