Sức chống chịu của nền kinh tế Việt Nam vẫn trụ vững
Đầu năm 2022, khi tình hình dịch bệnh về cơ bản đã được kiểm soát, Quốc hội, Chính phủ đã thông qua Chương trình phục hồi kinh tế, với gói hỗ trợ lớn chưa từng có lên tới 350.000 tỷ đồng và được giải ngân trong 2 năm 2022 - 2023.
Chính phủ và các bộ liên tục tổ chức các hội nghị, tọa đàm tìm giải pháp phục hồi nền kinh tế.
Việc này đã cơ bản đáp ứng được mong muốn của cộng đồng doanh nghiệp và người dân, thể hiện quyết tâm mạnh mẽ của Quốc hội và Chính phủ trong việc đưa nền kinh tế của nước ta sớm vượt qua giai đoạn nhiều khó khăn, thử thách để vững bước đi lên.
Tuy nhiên, các mục tiêu tăng trưởng phục hồi kinh tế đang bị gặp phải rào cản rất lớn, khi cuối tháng 2/2022, cuộc xung đột giữa Nga và Ukraine nổ ra.
Nhìn tổng thể, kim ngạch thương mại song phương giữa Việt Nam - Nga, Việt Nam - Ukraine không quá lớn. Thế nhưng, chiến sự tại Ukraine lại gián tiếp gây ra nguy cơ về lạm phát. Nhiều doanh nghiệp rơi vào cảnh khó khăn chồng chất khó khăn, khi giá của các mặt hàng nhiên liệu, nguyên liệu đầu vào không ngừng tăng giá.
Đó là chưa kể, các quốc gia châu Âu - một trong những đối tác quan trọng của cả Việt Nam, Ukraine và Nga, cũng vì cuộc xung đột này, khiến quá trình đầu tư bị giảm tốc. Như vậy, có thể thấy rằng, ảnh hưởng chiến sự tại Ukraine tới kinh tế Việt Nam không phải là nhỏ.
Đồng tình với quan điểm này, TS. Võ Trí Thành - Nguyên Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương cho biết: Khi làm chương trình phục hồi kinh tế sau đại dịch COVID-19, Việt Nam đã tính toán được một số kịch bản có thể xảy ra, như tỷ lệ lạm phát, nợ công, đầu tư tài chính. Chính phủ cũng đã có nhiều giải pháp để hạn chế và hóa giải những nguy cơ tiềm ẩn.
Tuy nhiên, cuối tháng 2, chiến sự tại Ukraine nổ ra, đây là kịch bản không thể dự báo từ trước. Cho nên, chương trình phục hồi kinh tế vốn được dự báo từ trước, nay có thể vì chiến sự tại Ukraine mà bị chững lại.
“Việt Nam là nền kinh tế có độ mở cao, nên bất kỳ biến động nào từ thế giới đều ảnh hưởng trực tiếp tới quá trình tăng trưởng kinh tế”, TS. Võ Trí Thành nói.
Trong khi đó, PGS.TS Vũ Sỹ Cường - Kinh tế trưởng Viện Công nghệ và Phát triển tài chính đánh giá, cuộc chiến của Nga - Ukraine càng kéo dài, ảnh hưởng tới nền kinh tế Việt Nam càng lớn.
Trong thời gian vừa qua, có rất nhiều ý kiến lo ngại, chiến sự tại Ukraine đã khiến lạm phát nhiên liệu tăng cao, các mặt hàng xăng dầu, khí đốt đều đã tăng 20% - 40% so với thời điểm đầu năm 2022. Điều này hoàn toàn đúng, tuy nhiên, PGS.TS Vũ Sỹ Cường lưu ý về một “thảm họa” khác liên quan tới cuộc xung đột này, chính là lạm phát lương thực.
Theo ông Cường, Việt Nam là nước tự chủ về lương thực, thực phẩm, nên đôi khi được hưởng lợi khi xuất khẩu lương thực, nông sản. Tuy nhiên, ngành chăn nuôi Việt Nam lại bị phụ thuộc vào thức ăn nhập khẩu. Vì vậy, nguy cơ lạm phát lương thực, thực phẩm Việt Nam là có thể xảy ra.
Nhưng nhìn chung, cả PGS.TS Vũ Sỹ Cường và TS. Võ Trí Thành đều nhận định, trước những tác động của thế giới, kinh tế Việt Nam vẫn có sức chống chịu rất tốt.
“Nói chung sức chống chịu của nền kinh tế vẫn rất tốt. Tuy nhiên, thay vì được hưởng lợi từ chương trình phục hồi kinh tế xã hội và gói kích cầu 350.000 tỷ đồng, nhưng chiến sự tại Ukraine khiến hiệu ứng từ gói kích cầu này giảm đi”, PGS.TS Vũ Sỹ Cường nói.
Triển khai thật nhanh các giải pháp phục hồi kinh tế đã được thông qua
Để tăng hiệu quả của chương trình phục hồi kinh tế, PGS.TS Vũ Sỹ Cường đề nghị Quốc hội, Chính phủ phải triển khai thật nhanh các giải pháp đã được thông qua. Đặc biệt, trong bối cảnh thế giới đang có nhiều biến động khôn lường, quá trình giải ngân phải được thực hiện càng sớm càng tốt.
Kinh tế Việt Nam được nhiều tổ chức, chuyên gia kinh tế dự báo có triển vọng tăng trưởng tốt hơn trong năm 2022.
Sở dĩ ông Cường đề cập tới vấn đề này là do Việt Nam có truyền thống làm chính sách “ném đá dò đường”, làm cho các chương trình phục hồi có độ trễ.
“Làm chính sách lúc này cần phải tránh kiểu “ném đá dò đường”, phải nhanh mới có hiệu quả. Đương nhiên, làm chính sách nhanh không phải là không thận trọng. Nhưng qua rất nhiều chương trình phục hồi, rồi các gói hỗ trợ phục hồi kinh tế trước đó, đã cho thấy, Việt Nam phải thay đổi mạnh mẽ hơn nữa, phải quyết liệt để có hiệu quả tốt nhất”, ông Cường thẳng thắn bày tỏ quan điểm.
Đồng thời, PGS.TS Vũ Sỹ Cường nhấn mạnh, để thực hiện nhanh gói hỗ trợ, Chính phủ cũng nên có những yêu cầu cụ thể với các địa phương và các bộ ngành, không cụ thể hóa thì các nơi cũng sẽ thiếu mạnh mẽ chuyển biến.
Trong khi đó, TS. Võ Trí Thành cho rằng, để chương trình phục hồi kinh tế đạt được hiệu quả tối đa, trước mắt phải giải quyết được bài toán kiềm chế đà tăng của xăng dầu.
Liên quan về vấn đề này, ông Thành đề cập tới trách nhiệm của Bộ Công Thương trong việc hài hòa công suất nguồn cung xăng dầu trong nước và nhập khẩu. Đồng thời, phải có giải pháp triệt tiêu tình trạng găm hàng của các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu.
“Điều quan trọng nhất trong việc điều hành xăng dầu ở thời điểm này chính là việc giảm thuế, phí để khiến giá xăng dầu hạ nhiệt. Hiện nay, đề xuất giảm 50% thuế bảo vệ môi trường đã có rồi, nhưng cần phải thực hiện ngay và luôn, quá trình đệ trình không thể quá dài, vì càng để lâu, doanh nghiệp, và người dân càng khó khăn. Đây chính là bài học cho việc làm chính sách linh hoạt, kịp thời”, TS. Võ Trí Thành nói.
Ngoài các vấn đề liên quan tới câu chuyện xăng dầu, TS. Võ Trí Thành cũng kiến nghị Chính phủ có thêm nhiều chính sách hỗ trợ hơn nữa.
Đầu tháng 2/2022, một số dự báo cho rằng, GDP Việt Nam có thể tăng 6 - 6,5% trong năm 2022, thậm chí có tổ chức nói trên 7%. Thế nhưng, ông Thành cho rằng, trong bối cảnh hiện nay rất khó để đạt được con số tăng trưởng GDP 6%.
“Trước những biến động của thế giới, việc GDP tăng trưởng 6%-7% rất khó, nhưng chắc chắn kinh tế sẽ phục hồi, xác suất vẫn trên 5%”, ông Thành nhấn mạnh.
Phân tích rõ hơn về điều này, ông Thành nói: Hiện Việt Nam có 3 yếu tố đảm bảo cho khả năng chống chịu của nền kinh tế.
Thứ nhất là kinh tế vĩ mô của Việt Nam tương đối bền vững. Các chính sách cân bằng, hệ thống tài chính lành mạnh cộng với tính tự chủ cao cùng với chính sách linh hoạt của Ngân hàng Nhà nước.
Thứ hai, cơ cấu kinh tế đa dạng, hội nhập sâu rộng với thế giới và có khả năng cạnh tranh với nhiều quốc gia khác trong khu vực. Đặc biệt, kinh tế Việt Nam đang được hưởng lợi từ các Hiệp định thương mại.
Cuối cùng, hệ thống an sinh xã hội được đảm bảo. Với Việt Nam, bên cạnh xây dựng khung khổ cho bảo hiểm an sinh xã hội chúng ta có thể học hỏi rất nhiều nước, có thể kết hợp với tính đùm bọc tình thương.
“Dù vậy, tôi và nhiều chuyên gia khác rất khó để có dự báo chính xác, vì tình hình ngày càng bất định”, ông Thành nhấn mạnh.
Định Trần