Từ một cửa nộp hồ sơ đến nền tảng dữ liệu liên thông
Cơ chế một cửa quốc gia được ngành Hải quan phối hợp với các bộ, ngành triển khai chính thức từ tháng 11/2014. Sau hơn một thập kỷ vận hành, hệ thống này đã trở thành đầu mối điện tử quan trọng trong xử lý thủ tục liên quan đến hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh; người và phương tiện xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh.
Hiện nay, Cục Hải quan đang xây dựng nền tảng số “Cổng thông tin một cửa quốc gia” thông qua dự án “Mở rộng Cổng thông tin một cửa quốc gia và kết nối Cơ chế một cửa ASEAN (giai đoạn 3)”. Dự án đã được phê duyệt và Cục Hải quan đang phối hợp với nhà thầu triển khai gói “Lập thiết kế chi tiết, dự toán và xây dựng mở rộng Cổng thông tin một cửa quốc gia và kết nối Cơ chế một cửa ASEAN (giai đoạn 3)”, cùng gói thuê tư vấn giám sát thi công đối với gói thầu này.
Trên Cổng thông tin điện tử Bộ Tài chính, gói thầu lập thiết kế chi tiết, dự toán và xây dựng mở rộng cổng thông tin một cửa quốc gia, kết nối Cơ chế một cửa ASEAN giai đoạn 3 cũng đã được công bố trong kế hoạch và kết quả lựa chọn nhà thầu cuối năm 2025. Đây là bước chuyển quan trọng, đưa dự án từ khâu chuẩn bị sang phần việc triển khai cụ thể.
Đến nay, Cơ chế một cửa quốc gia đã có 250 thủ tục hành chính của 13 bộ, ngành kết nối, với xấp xỉ hàng chục ngàn doanh nghiệp tham gia. Ở cấp khu vực, Việt Nam duy trì kết nối chính thức với Cơ chế một cửa ASEAN để trao đổi chứng nhận xuất xứ điện tử mẫu D với 9 nước ASEAN.
Điểm đáng chú ý của giai đoạn mở rộng lần này là Cổng thông tin một cửa quốc gia không dừng ở vai trò “nơi nộp hồ sơ điện tử”. Theo thiết kế, hệ thống tiếp nhận chứng từ điện tử, xác thực chữ ký số, chuyển thông tin khai báo đến hệ thống xử lý chuyên ngành, nhận phản hồi kết quả xử lý, lưu trạng thái giao dịch và kết nối với hệ thống thông tin của các quốc gia, vùng lãnh thổ theo thỏa thuận quốc tế.
Nói cách khác, đây là hạ tầng dữ liệu dùng chung cho hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực xuất nhập khẩu. Doanh nghiệp gửi dữ liệu một lần, cơ quan quản lý xử lý trên cùng một dòng thông tin, còn Hải quan giữ vai trò đầu mối điều phối, tiếp nhận và phản hồi kết quả. Cách làm này phù hợp với tinh thần của Cơ chế một cửa ASEAN, nơi các hệ thống một cửa quốc gia của từng nước được kết nối trong một môi trường bảo mật để chia sẻ, đối chiếu thông tin phục vụ thông quan hàng hóa.
Doanh nghiệp hưởng lợi từ hồ sơ bớt lặp, thời gian ngắn hơn và dữ liệu minh bạch hơn
Lợi ích dễ thấy nhất của việc mở rộng Cổng thông tin một cửa quốc gia nằm ở chi phí tuân thủ. Với doanh nghiệp xuất nhập khẩu, mỗi bộ hồ sơ bớt phải đi qua nhiều đầu mối là một lần giảm thời gian chờ, giảm nhân lực theo dõi và giảm rủi ro phát sinh do sai lệch thông tin giữa các cơ quan xử lý.
Khi hồ sơ, chứng từ và kết quả xử lý được lưu trên môi trường điện tử, doanh nghiệp có thể theo dõi trạng thái thủ tục rõ hơn. Cơ quan quản lý cũng có dữ liệu để tra cứu, thống kê, giám sát và đánh giá chất lượng xử lý. Quy trình càng ít phụ thuộc giấy tờ và tiếp xúc trực tiếp, môi trường thông quan càng minh bạch, dự báo được và thuận lợi hơn cho doanh nghiệp làm ăn bài bản.
Những kết quả cải cách số thời gian qua cho thấy tác động không nhỏ đến thời gian thông quan. Giai đoạn 2020-2023, thời gian trung bình thực hiện thủ tục thông quan hàng xuất khẩu giảm từ 4 giờ 14 phút 34 giây xuống còn 2 giờ 11 phút 34 giây; hàng nhập khẩu giảm từ 40 giờ 49 phút 34 giây xuống còn 35 giờ 57 phút 26 giây. Với quy mô hàng hóa qua cửa khẩu ngày càng lớn, vài giờ được rút ngắn không chỉ là con số kỹ thuật, mà là chi phí kho bãi, chi phí vốn và khả năng giao hàng đúng hẹn của doanh nghiệp.
Ở khâu thủ tục hải quan, 100% thủ tục hải quan cơ bản đã được tự động hóa; 100% Cục Hải quan, Chi cục Hải quan thực hiện thủ tục hải quan điện tử, với sự tham gia của 99,65% doanh nghiệp. Đối với luồng hàng xanh, thời gian xử lý bộ hồ sơ chỉ còn từ 1 đến 3 giây.
Với Cơ chế một cửa ASEAN, lợi ích không chỉ nằm trong biên giới Việt Nam. Việc trao đổi chứng nhận xuất xứ điện tử mẫu D với 9 nước ASEAN giúp doanh nghiệp rút ngắn thời gian chứng minh xuất xứ, giảm hồ sơ giấy và nhanh hơn trong việc hưởng ưu đãi thuế quan. Trong bối cảnh chuỗi cung ứng khu vực ngày càng đòi hỏi tốc độ, một chứng từ được trao đổi điện tử có thể giúp lô hàng giảm bớt độ trễ ngay từ khâu chuẩn bị hồ sơ.
Dự án giai đoạn 3 vì vậy có ý nghĩa như một bước nâng cấp nền móng. Khi Cổng thông tin một cửa quốc gia được mở rộng, dữ liệu từ doanh nghiệp, bộ ngành chuyên ngành, cơ quan Hải quan và đối tác ASEAN có thêm điều kiện để đi trên một luồng thống nhất hơn. Hệ thống càng đồng bộ, doanh nghiệp càng ít phải tự “ghép nối” giữa nhiều cửa thủ tục.
Trong dài hạn, việc mở rộng Cổng thông tin một cửa quốc gia còn gắn với lộ trình xây dựng Hải quan số, Hải quan thông minh. Ngành Hải quan đang hướng tới số hóa hồ sơ, cắt giảm thời gian xử lý thủ tục hành chính, giảm chi phí kinh doanh và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu của Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2025 của Bộ Chính trị đề ra.
Với một nền kinh tế có kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa ở quy mô hàng trăm tỷ USD mỗi năm, cải cách thủ tục không còn là việc riêng của cơ quan quản lý. Mỗi kết nối thông suốt hơn giữa Cổng thông tin một cửa quốc gia và Cơ chế một cửa ASEAN sẽ trở thành một lợi thế nhỏ nhưng thực chất cho doanh nghiệp Việt Nam: ít giấy tờ hơn, ít chờ đợi hơn, nhiều dữ liệu minh bạch hơn và thêm cơ hội đi sâu vào chuỗi cung ứng khu vực.