Ngay từ buổi đầu lập nước, Đảng và Bác Hồ đã hết sức coi trọng vai trò của công tác đối ngoại với tư cách là một vũ khí quan trọng để bảo vệ lợi ích dân tộc, bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ chính quyền nhân dân, phục vụ kháng chiến, kiến quốc. Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 28/8/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh thành lập Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trong đó quyết định thành lập Bộ Ngoại giao - chính thức khai sinh ngành Ngoại giao Việt Nam hiện đại, mang sứ mệnh khẳng định nền độc lập, bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ và tranh thủ sự ủng hộ quốc tế. Đặc biệt, ngoại giao Việt Nam vô cùng vinh dự được Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp dìu dắt, lãnh đạo, chỉ đạo trên cương vị Bộ trưởng Ngoại giao đầu tiên của nước Việt Nam mới.
Ngay sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, ngày 3/10/1945, Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ra Thông cáo về chính sách ngoại giao. Theo GS-TS Vũ Dương Huân - nguyên Giám đốc Học viện Ngoại giao, nguyên Trưởng ban Nghiên cứu lịch sử, Bộ Ngoại giao: “Khi Chính phủ ra đời cần phải có đường lối chính sách hoàn chỉnh. Do vậy, ngay ngày 3/10/1945, đích thân Bác Hồ soạn thông cáo của chính phủ lâm thời về chính sách đối ngoại của Việt Nam trong thời kỳ đó. Thông cáo nêu những đường hướng cơ bản về đối ngoại của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong quan hệ với các nước đồng minh, với các nước Đông Dương... Trước hết liên quan đến đồng minh, Việt Nam khẳng định duy trì quan hệ hữu nghị hợp tác với các nước đồng minh trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của nước VNDCCH vì một nền hòa bình thế giới. Thứ hai là quan hệ với Pháp, mong muốn xây dựng quan hệ lâu dài với Pháp trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền và tôn trọng lợi ích của Việt Nam". “Tuyên bố ngày 3/10/1945 về chính sách đối ngoại Việt Nam đã hình thành nền tảng phương pháp, phong cách, nguyên lý, nguyên tắc của chính sách đối ngoại Việt Nam, góp phần thành chính sách đối ngoại rộng mở sau này”- GS-TS Vũ Dương Huân nhìn nhận.
Cùng với đó, trên cương vị đứng đầu Chính phủ, trực tiếp đảm nhiệm cương vị Bộ trưởng Bộ Ngoại giao đầu tiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thực hiện hàng loạt giao thiệp ngoại giao qua thư, công hàm với Chủ tịch Đại hội đồng Liên Hợp quốc và người đứng đầu chính phủ các nước lớn như: Mỹ, Anh, Liên Xô, Trung Quốc… để thông báo về sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và bày tỏ “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẽ đóng góp công sức vào việc xây dựng hòa bình và thịnh vượng trên thế giới"; đồng thời, thông qua hoạt động của Hội Việt - Mỹ làm "lợi khí tuyên truyền quốc tế", tranh thủ sự ủng hộ của các nước cho cách mạng Việt Nam.
PGS.TS. Đại sứ Đặng Đình Quý, nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao cũng cho rằng: “Dưới sự chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngoại giao Việt Nam đã vận dụng nhuần nhuyễn phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Từ đó Đảng ta đã kịp thời đề ra quyết sách “hòa để tiến” với Pháp. Triển khai quyết sách ấy, thông qua các biện pháp ngoại giao, Chính phủ ta đã ký kết với Pháp hai văn kiện hết sức quan trọng là Hiệp định Sơ bộ 6-3 và Tạm ước 14-9. Ta nhân nhượng với Pháp một số điều kiện để kéo dài thời gian hòa hoãn, củng cố và chuẩn bị lực lượng, nhưng không thỏa hiệp các vấn đề nguyên tắc về độc lập và thống nhất quốc gia. “Hòa” với Pháp để dành thời gian, bảo toàn thực lực là biện pháp “biến thời gian thành lực lượng vật chất” phục vụ cho kháng chiến chống Pháp lâu dài sau này. “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” chính là tư tưởng, phương pháp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong xử lý các vấn đề chiến lược, sách lược. Trong bối cảnh khó khăn của tình hình trong nước và quốc tế, khi thế và lực của ta còn yếu, vận dụng nhuần nhuyễn phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, ngoại giao ta đã hết sức linh hoạt, sáng tạo trong xử lý các tình huống, nhờ đó đã phát huy vai trò và tính tiên phong trong bảo vệ nền độc lập và chính quyền cách mạng non trẻ”.
Cũng theo PGS.TS. Đại sứ Đặng Đình Quý: “Bên cạnh Bác Hồ, nền ngoại giao Việt Nam trong thời kỳ đó còn có sự tham gia của các đồng chí: Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Phan Anh, Hoàng Minh Giám và nhiều đồng chí khác. Với tấm lòng yêu nước nồng nàn và nhiệt tình cách mạng tràn đầy, thế hệ các nhà cách mạng ấy đã trực tiếp tham gia công tác đối ngoại bằng cách phát huy trí tuệ của mình, cùng góp sức với Trung ương Đảng và Bác Hồ sáng suốt nhận định tình hình, đề ra những chủ trương hết sức đúng đắn, triển khai chính sách ngoại giao, góp phần làm nên những thành tích ngoại giao vẻ vang”.
Có thể nói, trong những năm tháng đất nước vừa giành được độc lập, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngoại giao đã trở thành vũ khí sắc bén, linh hoạt, sáng tạo, chèo chống đưa cách mạng Việt Nam vượt qua tình thế hiểm nghèo, bảo vệ chính quyền nhân dân non trẻ, giữ vững thành quả cách mạng, phục vụ kháng chiến, kiến quốc, đặt nền tảng quan hệ với các nước và tranh thủ sự giúp đỡ quốc tế về sau.
Ngày 25/11/1945, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương ra Chỉ thị Kháng chiến kiến quốc. Chỉ thị đề ra nhiệm vụ cần kíp của nhân dân Đông Dương đối với cách mạng thế giới là phải tranh đấu để thực hiện triệt để hiến chương các nước liên hiệp, ủng hộ Liên Xô, xây dựng hoà bình thế giới, mở rộng chế độ dân chủ ra các nước, giải phóng cho các dân tộc thuộc địa…. Trong những nhiệm vụ đó, nhiệm vụ bao trùm là củng cố chính quyền. Để củng cố chính quyền cách mạng, thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ “kháng chiến” và “kiến quốc”, Chỉ thị vạch ra những biện pháp toàn diện và cơ bản để thực hiện. Về ngoại giao: Nắm vững nguyên tắc thêm bạn, bớt thù, biểu dương thực lực; kiên trì chủ trương ngoại giao với các nước theo nguyên tắc “bình đẳng và tương trợ”…