Từ quyết tâm chính trị đến năng lực tổ chức thực hiện
Tại Phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam ngày 13/7, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị, đồng thời chỉ rõ nhiều nhiệm vụ cần tập trung trong thời gian tới. Một trong những vấn đề đáng chú ý là sự chênh lệch về tiến độ xây dựng chương trình hành động giữa địa phương và các cơ quan Trung ương.
Theo số liệu được nêu, 34/34 tỉnh, thành phố đã ban hành chương trình hành động, đạt 100%. Trong khi đó, khối bộ, ngành và cơ quan Trung ương mới có 16/22 cơ quan hoàn thành, tương đương 72,7%. Đây không chỉ là khác biệt về một chỉ tiêu tiến độ, mà còn phản ánh khoảng cách từ chủ trương đến khâu tổ chức thực hiện.
Trao đổi về vấn đề này, PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, cho rằng sự chênh lệch trên cần được nhìn nhận như một cảnh báo về khâu thực thi.
“Theo tôi, con số 72,7% là một chỉ dấu rất đáng suy nghĩ. Sau nửa năm triển khai Nghị quyết 80, đã có 34/34 tỉnh, thành phố đã ban hành chương trình hành động, trong khi khối bộ, ngành và cơ quan Trung ương mới có 16/22 cơ quan hoàn thành. Điều đó cho thấy vấn đề hiện nay không còn chủ yếu nằm ở nhận thức hay quyết tâm chính trị, mà đang chuyển rất rõ sang năng lực tổ chức thực hiện”, ông Sơn nói.
Phân tích nguyên nhân, ông Sơn cho rằng nhiều nhiệm vụ văn hóa ở cấp Trung ương mang tính liên ngành rất cao, đồng thời liên quan tới tài chính, đầu tư, đất đai, khoa học - công nghệ, sở hữu trí tuệ, giáo dục và đối ngoại.
“Một chương trình hành động thực chất không thể chỉ giao nhiệm vụ cho riêng ngành văn hóa mà phải xác định được ai chủ trì, ai phối hợp, nguồn lực ở đâu, thời hạn nào và sản phẩm cuối cùng là gì. Chính tính chất liên ngành này dễ dẫn đến tình trạng chờ đợi, phối hợp nhiều vòng hoặc trách nhiệm chưa thật rõ”, PGS.TS Bùi Hoài Sơn phân tích.
Tính chất liên ngành khiến quá trình xây dựng chương trình hành động phải trải qua nhiều khâu trao đổi, thống nhất. Nếu trách nhiệm chưa được phân định rõ, một nhiệm vụ có thể rơi vào tình trạng chờ cơ quan khác có ý kiến, phối hợp nhiều vòng nhưng không có đầu mối chịu trách nhiệm đến cùng. Đây là điểm nghẽn thường gặp khi chuyển một định hướng lớn thành danh mục công việc có thể thực hiện và kiểm đếm. Dù vậy, theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn, tính chất phức tạp của công việc không thể trở thành lý do để kéo dài tiến độ.
Không giao việc bằng khẩu hiệu
Một chương trình hành động chỉ có ý nghĩa khi từng nhiệm vụ được gắn với sản phẩm cụ thể. Nếu kế hoạch chỉ dừng ở những cụm từ như “tăng cường”, “đẩy mạnh”, “nâng cao” nhưng thiếu thời hạn, nguồn lực và cơ quan chịu trách nhiệm, việc đánh giá sau đó rất dễ rơi vào tình trạng định tính.
Từ thực tế này, yêu cầu “rõ người, rõ việc, rõ thời hạn, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm” cần được xem là nguyên tắc xuyên suốt. Với từng nhiệm vụ, cơ quan chủ trì phải trả lời được sẽ hoàn thành văn bản, đề án, cơ sở dữ liệu, công trình hay sản phẩm văn hóa nào; cần bao nhiêu nguồn lực; mốc kiểm tra trung gian ra sao và kết quả cuối cùng tác động thế nào tới người dân, nghệ sĩ, nhà sáng tạo và doanh nghiệp.
Về phía Quốc hội, PGS.TS Bùi Hoài Sơn cho biết các công cụ giám sát đã tương đối đầy đủ, từ xem xét báo cáo của Chính phủ, chất vấn, giám sát chuyên đề, hoạt động giải trình đến theo dõi việc thực hiện kết luận, kiến nghị sau giám sát.
“Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025, có hiệu lực từ ngày 1/3/2026, tiếp tục tăng cường việc gắn giám sát với trách nhiệm thực hiện và hoàn thiện chính sách”, ông Sơn cho biết.
Điều cần thay đổi là nội dung giám sát. Thay vì dừng ở việc kiểm tra một cơ quan đã ban hành kế hoạch hay chưa, giám sát phải đi sâu vào kết quả và tác động.
“Không chỉ hỏi ‘đã ban hành kế hoạch chưa’, mà phải hỏi ‘sản phẩm nào đã hình thành, nguồn lực nào đã được giải ngân, người dân, nghệ sĩ, doanh nghiệp được hưởng lợi gì’. Chỉ khi chuyển từ giám sát thủ tục sang giám sát kết quả, chúng ta mới thực sự thu hẹp được khoảng cách từ nghị quyết đến cuộc sống”, PGS.TS Bùi Hoài Sơn nêu quan điểm.
Giám sát cũng không nên chờ đến cuối kỳ mới tổng kết. Với những nhiệm vụ có thời hạn cụ thể, cần xác lập các mốc trung gian để nhận diện sớm nguy cơ chậm tiến độ. Khi vướng mắc được phát hiện từ đầu, Chính phủ, Quốc hội và các địa phương có thể kịp thời tháo gỡ thay vì chờ đến khi hết hạn mới xác định nguyên nhân.
Việc công khai tiến độ ở mức phù hợp cũng tạo thêm áp lực trách nhiệm. Cơ quan nào đã hoàn thành, cơ quan nào chưa; nhiệm vụ chậm do thiếu hướng dẫn, thiếu vốn hay phối hợp chưa hiệu quả cần được thể hiện rõ. Minh bạch tiến độ không nhằm tạo ra sự so sánh hình thức, mà để nhận diện đúng điểm nghẽn và tập trung nguồn lực xử lý.
Khoảng cách từ nghị quyết đến cuộc sống sẽ không được thu hẹp chỉ bằng việc có thêm văn bản. Kết quả cuối cùng phải được thể hiện bằng những thiết chế hoạt động hiệu quả hơn, môi trường sáng tạo thuận lợi hơn, di sản được bảo tồn và phát huy tốt hơn, người dân được tiếp cận văn hóa đầy đủ hơn.
Nghị quyết 80 đã mở ra định hướng lớn cho phát triển văn hóa Việt Nam. Giai đoạn tiếp theo là phép thử của năng lực thực thi: khi nhiệm vụ đã được xác định thì phải có người chịu trách nhiệm, nguồn lực bảo đảm, thời hạn hoàn thành và sản phẩm có thể kiểm chứng. Đây cũng là điều kiện để khắc phục tình trạng chính sách đúng nhưng triển khai chậm, nhiệm vụ có tên nhưng chưa có kết quả cụ thể. Chỉ khi từng mắt xích vận hành theo tinh thần đó, quyết tâm chính trị mới thực sự chuyển hóa thành kết quả trong đời sống.