Sen nở giữa chằm trũng Quy Mông

(CLO) Từ những chân ruộng lúa chằm khó canh tác, vợ chồng ông Hà Ngọc Huân, bà Hà Thị Tứ ở thôn Kiên Lao, xã Quy Mông, tỉnh Lào Cai đã mạnh dạn chuyển sang trồng sen. Sau vụ đầu tiên, hoa sen, hạt sen, lá sen cùng những sản phẩm chế biến bước đầu đem lại nguồn thu mới, mở ra hướng khai thác giá trị trên đồng đất quê nhà.

Từ ruộng lúa khó canh tác đến những sản phẩm làm từ sen

Những ngày cuối tháng 10/2026, trong căn nhà ở thôn Kiên Lao, vợ chồng ông Hà Ngọc Huân, bà Hà Thị Tứ vẫn tất bật với công việc sau thu hoạch. Người ngồi tách vỏ từng hạt sen, người thu xếp những túi lá sen đã phơi khô. Phía trong nhà, những chiếc tủ lạnh cỡ lớn được dùng để bảo quản các sản phẩm chế biến từ sen. Trên bàn, ấm trà Shan tuyết ướp hương sen tỏa mùi thơm dịu.

Những công việc ấy giờ đã trở nên quen thuộc với gia đình, nhưng cách đây chưa lâu, vợ chồng ông Huân vẫn chủ yếu gắn bó với cây lúa. Hơn 2 ha ruộng của gia đình nằm ở khu vực chằm trũng, máy móc khó xuống đồng, nhiều công đoạn phải làm thủ công. Sau mỗi vụ thu hoạch, công sức bỏ ra không ít nhưng giá trị thu về chưa tương xứng.

Làm ruộng nhiều năm, ông Huân, bà Tứ hiểu rõ những khó khăn của đồng đất quê mình. Muốn thay đổi, họ cần một cây trồng phù hợp hơn với điều kiện canh tác, đồng thời có khả năng đem lại giá trị kinh tế cao hơn. Thế nhưng, chuyển từ cây lúa sang một loại cây trồng hoàn toàn mới cũng đồng nghĩa với việc phải học lại từ đầu.

Cơ hội đến vào tháng 3/2026, khi Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Hoa, Cây cảnh thuộc Viện Nghiên cứu Rau quả phối hợp với địa phương triển khai đề tài ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trồng các giống sen mới, phục vụ sản xuất và chế biến sản phẩm theo chuỗi giá trị tại Lào Cai.

clo_br_1792572212816-273037605055849314-273037605055849314-211251c6c67e1d8617fa31ab4672aa64.jpg
PGS. TS Đặng Văn Đông - Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Rau quả giới thiệu về giống sen mới. Ảnh: Thu Phượng.

Được cán bộ địa phương vận động, các nhà khoa học trực tiếp trao đổi, hướng dẫn, vợ chồng ông Huân, bà Tứ quyết định chuyển toàn bộ diện tích ruộng trũng của gia đình sang trồng sen.

Đó không phải quyết định dễ dàng. Bao năm làm lúa, họ đã quen với lịch thời vụ, cách chăm sóc và những công việc thường ngày trên đồng. Còn sen là cây trồng mới, từ khâu chọn giống, xuống giống đến điều tiết nước, bón phân, phòng trừ sâu bệnh đều phải tìm hiểu, học hỏi.

Ngay từ những ngày đầu, gia đình được cán bộ chuyên môn hướng dẫn cách chuẩn bị ruộng, lựa chọn cây giống, xác định mật độ trồng, duy trì mực nước và theo dõi sâu bệnh. Những việc tưởng chừng đơn giản như nhận biết lá bệnh, tỉa bỏ phần cây bị ảnh hưởng hay xác định thời điểm thu hoạch cũng cần được hướng dẫn cụ thể.

Vừa làm, vợ chồng ông Huân vừa tích lũy kinh nghiệm ngay trên đồng ruộng của mình. Mỗi giai đoạn sinh trưởng của cây sen lại đem đến những điều mới mẻ, từ cách chăm sóc đến khả năng khai thác các bộ phận của cây.

Khoảng 1,5–2 tháng sau khi xuống giống, ruộng sen bắt đầu cho những sản phẩm đầu tiên. Những bông sen nở giữa đồng chằm làm thay đổi cảnh quan vốn quen thuộc, thu hút người đến tham quan, chụp ảnh. Nhưng điều khiến gia đình quan tâm hơn cả là cây sen không chỉ cho hoa mà còn có thể tạo ra nhiều sản phẩm khác nhau.

Những bông sen được hái từ sáng sớm để ướp trà Shan tuyết. Khoảng 4–5 giờ sáng, khi hoa còn tươi, gia đình bắt đầu thu hái, đưa trà vào từng bông sen rồi hút chân không để lưu giữ hương thơm. Công việc đòi hỏi sự cẩn thận, bởi thời điểm thu hái và cách sơ chế đều ảnh hưởng đến chất lượng thành phẩm.

Với ông Huân, trà sen là sản phẩm đáng chú ý bởi kết hợp được nguyên liệu gắn với địa phương: hoa sen trồng trên đồng chằm và trà Shan tuyết. Từ một cây trồng mới, gia đình có thêm cơ hội tạo ra sản phẩm mang dấu ấn riêng, thay vì chỉ bán nguyên liệu thô.

Ngoài trà sen, ngó sen được sử dụng làm ngó tươi, ngó sen muối; hạt sen được bán tươi, bóc vỏ hoặc chế biến thành sữa hạt sen; lá sen phơi khô để đun nước uống. Đài sen non cũng được sử dụng để ngâm rượu. Củ sen đang chờ đến kỳ thu hoạch để tiếp tục khai thác.

clo_br_1792572212766-273037605055849314-273037605055849314-9b3a8af60d45a16f8da9e701c8eeeb0a.jpg
Ngay từ những ngày đầu, người dân được cán bộ chuyên môn hướng dẫn cách chuẩn bị ruộng, lựa chọn cây giống, xác định mật độ trồng, duy trì mực nước và theo dõi sâu bệnh. Ảnh: Thu Phượng.

Từ một thửa ruộng trước đây chủ yếu cho thu hoạch lúa, gia đình đã có thêm nhiều loại sản phẩm để thử sức trên thị trường. Mỗi loại lại có cách thu hoạch, bảo quản và chế biến riêng, đòi hỏi người làm phải tiếp tục học hỏi, tìm hiểu nhu cầu khách hàng và tính toán đầu ra.

Theo mức giá gia đình cung cấp, mỗi búp trà sen được bán khoảng 40.000 đồng; lá sen khô khoảng 50.000 đồng/kg; hạt sen chưa bóc vỏ khoảng 80.000 đồng/kg, còn hạt đã bóc vỏ khoảng 150.000 đồng/kg. Đây là giá bán bước đầu của hộ sản xuất, chưa phải mức giá có thể áp dụng chung cho thị trường.

Ông Huân tính toán, trước đây mỗi sào ruộng chằm chỉ thu được khoảng 1,5 tạ lúa, giá trị chừng 1 triệu đồng. Với cây sen, giá trị thu nhập có thể đạt khoảng 4 triệu đồng mỗi sào. Gia đình cũng ước tính vụ sen đầu tiên có thể đem lại nguồn thu khoảng 70–80 triệu đồng, chưa tính phần sen lấy củ thu hoạch sau.

Những con số ấy khiến gia đình có thêm niềm tin vào lựa chọn của mình. Tuy nhiên, đây vẫn là kết quả tính toán ban đầu của hộ sản xuất; hiệu quả kinh tế đầy đủ cần được xác định trên cơ sở hạch toán chi phí giống, vật tư, công lao động, chế biến và tiêu thụ.

Vụ sen đầu tiên chưa thể nói lên tất cả. Đầu ra sản phẩm chưa ổn định, việc chế biến còn cần hoàn thiện, trong khi gia đình phải tự tìm kiếm khách hàng và giới thiệu sản phẩm. Nhưng so với trước đây, cây sen đã mở thêm một hướng làm ăn trên chính diện tích ruộng trũng vốn khó canh tác lúa.

clo_br_1792572290317-273037605055849314-273037605055849314-a2e42f99c362fdbe0d34d29df78bd8cb.jpg
Ông Hà Ngọc Huân cho biết ước tính vụ sen đầu tiên có thể đem lại nguồn thu khoảng 70–80 triệu đồng, chưa tính phần sen lấy củ thu hoạch sau. Ảnh: Thu Hằng.

Từ sự mạnh dạn của người dân đến hướng phát triển theo chuỗi giá trị

Câu chuyện của gia đình ông Huân, bà Tứ cũng phản ánh những khó khăn trong quá trình đưa cây sen vào sản xuất tại Quy Mông. Với người dân đã quen trồng lúa qua nhiều năm, việc chuyển sang một loại cây mới không chỉ là thay đổi kỹ thuật canh tác mà còn là thay đổi cách nghĩ, cách làm và cách tiếp cận thị trường.

Bà Hoàng Thị Ánh Tuyết, Giám đốc Trung tâm Dịch vụ tổng hợp xã Quy Mông, cho biết thời gian đầu, việc vận động người dân tham gia mô hình gặp không ít khó khăn. Bà con thường muốn nhìn thấy kết quả thực tế rồi mới quyết định làm theo. Trong khi đó, cây sen là đối tượng mới, cả người trồng lẫn cán bộ địa phương đều cần thời gian tìm hiểu, tích lũy kinh nghiệm.

Theo bà Tuyết, gia đình ông Huân, bà Tứ là một trong những hộ mạnh dạn đứng ra làm trước, nhận thuê lại diện tích xung quanh để tổ chức sản xuất. Việc gia đình trực tiếp trồng, chăm sóc, thu hoạch và chế biến sản phẩm đã tạo điều kiện để địa phương theo dõi kết quả, đánh giá khả năng phát triển mô hình.

Từ thực tế triển khai, bà Tuyết cho rằng phát triển cây sen không thể chỉ dừng ở việc đưa giống mới xuống ruộng. Muốn người dân yên tâm gắn bó, cần đồng hành từ kỹ thuật sản xuất đến khâu chế biến, giới thiệu sản phẩm và tìm kiếm thị trường.

Sau khoảng 8 tháng triển khai, các sản phẩm từ sen bước đầu được tiêu thụ, nhưng thị trường vẫn chủ yếu trong phạm vi địa phương. Không phải người dân nào cũng biết đến sản phẩm, trong khi việc quảng bá trên các nền tảng số còn hạn chế.

Gia đình ông Huân, bà Tứ đã bắt đầu giới thiệu sản phẩm trên Facebook. Hai người con gái của gia đình cũng tham gia hỗ trợ thiết kế tem, nhãn và từng bước tiếp cận việc bán hàng trực tuyến. Tuy nhiên, để xây dựng kênh bán hàng bài bản, mở rộng khách hàng và phát triển thị trường, gia đình vẫn cần được hướng dẫn thêm.

Bà Tuyết cho hay, trong kế hoạch năm 2027, Trung tâm định hướng tham mưu tổ chức cho người dân đi học hỏi kinh nghiệm tại những địa phương đã triển khai các mô hình phù hợp; đồng thời phối hợp tổ chức tập huấn chuyển đổi số, mời chuyên gia hướng dẫn xây dựng kênh quảng bá và bán hàng trên các nền tảng trực tuyến. Hoạt động này không chỉ hướng đến sản phẩm từ sen mà còn có thể áp dụng với các sản phẩm nông nghiệp chủ lực khác của Quy Mông như miến dong, măng.

Cùng với việc hỗ trợ tiêu thụ, địa phương cũng định hướng chuyển đổi những diện tích ruộng trũng, canh tác lúa kém hiệu quả sang cây trồng phù hợp hơn. Tuy nhiên, việc mở rộng diện tích sen cần căn cứ vào điều kiện đất đai, nguồn nước, khả năng tổ chức sản xuất và đầu ra sản phẩm, tránh phát triển diện tích khi chưa tính toán đầy đủ thị trường.

clo_br_anh-man-hinh-2026-10-28-luc-084747.png
Ông bà Huân Tứ cho biết mỗi búp trà sen đang được bán khoảng 40.000 đồng; lá sen khô khoảng 50.000 đồng/kg; hạt sen chưa bóc vỏ khoảng 80.000 đồng/kg, còn hạt đã bóc vỏ khoảng 150.000 đồng/kg.

PGS.TS Đặng Văn Đông, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Rau quả, chủ nhiệm đề tài, cho biết trong năm 2026, nhóm nghiên cứu đã khảo sát, lựa chọn địa điểm tại Việt Hồng, Trấn Yên và Quy Mông, với tổng diện tích khảo nghiệm giống và thí nghiệm kỹ thuật 5,32 ha. Riêng điểm Quy Mông có 2 ha.

Các địa điểm được lựa chọn có đặc điểm đất ruộng trũng, đất bùn phù sa hoặc tầng canh tác dày, khả năng giữ nước tốt và điều kiện cấp, thoát nước tương đối thuận lợi. Đây là cơ sở để nghiên cứu khả năng phát triển cây sen trên những diện tích canh tác hiệu quả thấp, gắn với nhu cầu sản xuất của hộ dân và hợp tác xã.

Theo báo cáo kết quả thực hiện đề tài cập nhật tháng 10/2026, năm giống sen được đưa vào đánh giá gồm Bách Diệp Hồng, định hướng khai thác hoa; Mặt Bằng, lấy hạt; Ánh Hồng, lấy ngó; Vân Đài 1, lấy củ; và Hồng Đồng Tháp, khai thác lá. Các giống đã sinh trưởng, phát triển và cho sản phẩm tại những điểm nghiên cứu trong năm đầu triển khai.

Kết quả khảo nghiệm bước đầu ghi nhận tỷ lệ sống của các giống đạt 88–92%, chu kỳ sinh trưởng từ 165 đến 218 ngày. Nhóm nghiên cứu cũng xác định được một số biện pháp kỹ thuật có triển vọng đối với từng hướng khai thác, từ mật độ trồng, điều tiết mực nước đến chế độ chăm sóc và thời điểm thu hoạch.

PGS.TS Đặng Văn Đông cho biết những kết quả này là cơ sở để tiếp tục hoàn thiện quy trình kỹ thuật, đánh giá chất lượng sản phẩm và tổ chức các mô hình sản xuất trong giai đoạn tiếp theo. Tuy nhiên, một số chỉ tiêu về năng suất toàn vụ, chất lượng và hiệu quả kinh tế vẫn cần tiếp tục tổng hợp, kiểm chứng. Hiệu quả cụ thể phải được đánh giá bằng số liệu chi phí, doanh thu và lợi nhuận tại từng mô hình.

Theo định hướng của đề tài, năm 2027 dự kiến triển khai mô hình thâm canh 5 ha và mô hình chế biến quy mô 2.000 m², với công suất mục tiêu 5 tấn sản phẩm/năm theo thuyết minh nhiệm vụ. Việc triển khai sẽ gắn với lựa chọn địa điểm, điều kiện đất đai, nguồn nước, năng lực chế biến và khả năng liên kết tiêu thụ.

Ở góc độ địa phương, ông Trần Ngọc Thư, Bí thư Đảng ủy xã Quy Mông, cho rằng kết quả bước đầu của mô hình trồng sen mở ra hướng đi mới cho những diện tích ruộng trũng trồng lúa kém hiệu quả. Địa phương định hướng nghiên cứu mở rộng vùng trồng, hoàn thiện các sản phẩm từ sen, trong đó có ý tưởng kết hợp trà Shan tuyết với hương sen để tạo sản phẩm mang nét riêng của Quy Mông.

Bên cạnh giá trị sản xuất, những cánh đồng sen còn có thể tạo thêm cảnh quan, mở ra cơ hội phát triển tham quan, trải nghiệm nông nghiệp và du lịch sinh thái cộng đồng. Dẫu vậy, để hướng đi này trở thành sinh kế ổn định, việc tổ chức sản xuất, chế biến và tiêu thụ vẫn là những khâu cần được giải quyết đồng bộ.

Trở lại với gia đình ông Huân, bà Tứ, công việc sau vụ sen đầu tiên vẫn tiếp diễn. Những túi lá sen khô được xếp gọn, hạt sen vẫn được tách vỏ, còn các sản phẩm chế biến đang từng bước tìm chỗ đứng trên thị trường. Vợ chồng ông bà mong muốn tiếp tục gắn bó với cây sen và hy vọng sẽ có thêm những hộ dân tham gia khi mô hình chứng minh được hiệu quả.

Từ những thửa ruộng chằm từng khó đưa máy móc vào sản xuất đến những bông sen nở giữa đồng, sự thay đổi ở Kiên Lao mới chỉ bắt đầu. Giá trị lâu dài của cây sen sẽ phụ thuộc vào khả năng hoàn thiện kỹ thuật, nâng chất lượng sản phẩm và tìm được đầu ra ổn định. Nhưng với gia đình ông Huân, bà Tứ, vụ sen đầu tiên đã đem đến một lựa chọn mới trên chính đồng đất quê mình.

Xem thêm

Nga, Kazakhstan bán vàng, Trung Quốc và Ba Lan tích cực mua vào

Nga, Kazakhstan bán vàng, Trung Quốc và Ba Lan tích cực mua vào

(CLO) Nga và Kazakhstan đang giảm lượng vàng dự trữ, trong khi Trung Quốc và Ba Lan tiếp tục mua vào. Theo chuyên gia, động thái này chủ yếu xuất phát từ nhu cầu tài chính và chiến lược dự trữ của từng quốc gia, chưa phải là dấu hiệu cho thấy các ngân hàng trung ương đồng loạt rời bỏ vàng.

Sáu sòng bạc góp 1,1 tỷ USD vào quỹ đầu tư Ma Cao

Sáu sòng bạc góp 1,1 tỷ USD vào quỹ đầu tư Ma Cao

(CLO) Sáu nhà điều hành sòng bạc tại Ma Cao (Trung Quốc) cam kết đóng góp hơn 1,1 tỷ USD vào quỹ đầu tư của chính quyền, nhằm phát triển các ngành nghề phi cờ bạc và giảm sự phụ thuộc của nền kinh tế vào hoạt động kinh doanh casino.

Sau mỗi ban công là bức tranh thiên nhiên rực rỡ, lãng mạn.

Ecopark ra mắt Rừng Hồng – trung tâm của Mùa Lễ Hội tại Eco Retreat

Đại đô thị Eco Retreat được khởi công từ tháng 4/2025, lần lượt ra mắt thị trường các phân khu nhà phố, biệt thự, căn hộ cao tầng. Mới đây nhất, phân khu thấp tầng tại vị trí trung tâm đại đô thị, giữ vai trò là tâm điểm của các kết nối đặc sắc về không gian cảnh quan, quảng trường, xã hội mang tên Rừng Hồng được Ecopark chính thức ra mắt.

Đánh thức nguồn lực di sản đường sắt cho phát triển du lịch

Đánh thức nguồn lực di sản đường sắt cho phát triển du lịch

(CLO) Hội thảo khoa học “Phát huy giá trị di sản và nguồn lực văn hóa trong chiến lược phát triển kinh tế, du lịch của ngành Đường sắt Việt Nam” dự kiến diễn ra ngày 30/10 tại Hà Nội, với sự tham gia của gần 200 đại biểu. Sự kiện hướng tới tìm kiếm giải pháp khai thác hiệu quả giá trị di sản đường sắt, tạo động lực phát triển kinh tế và du lịch trong giai đoạn mới.

Cỡ chữ bài viết: