Kết luận nêu rõ: Trong những năm qua, ngành công nghiệp vật liệu ở Việt Nam đã từng bước phát triển, cơ bản đáp ứng nhu cầu về nhiều loại vật tư, nguyên liệu đầu vào cho nền kinh tế; đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế, xây dựng kết cấu hạ tầng, tạo việc làm, tăng thu ngân sách và xuất khẩu; bước đầu nghiên cứu, sản xuất một số loại vật liệu mới, vật liệu xanh, vật liệu tái chế; dần khẳng định vai trò là một trong những ngành công nghiệp nền tảng, có ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Tuy nhiên, phát triển công nghiệp vật liệu chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế; chưa quan tâm đúng mức đến chế biến sâu, làm chủ công nghệ lõi, công nghệ cao, tái chế; sản xuất vật liệu còn nặng về khai thác, thâm dụng tài nguyên, tiêu hao nhiều năng lượng, giá trị gia tăng thấp, phát thải cao, gây ô nhiễm môi trường; cơ cấu sản phẩm chưa hợp lý.
Ngoài ra, vật liệu chất lượng cao, vật liệu công nghệ cao và vật liệu đặc chủng phụ thuộc lớn vào nhập khẩu; chưa hình thành doanh nghiệp nòng cốt dẫn dắt các chuỗi giá trị; thiếu vốn đầu tư dài hạn cho các dự án vật liệu chiến lược; tình trạng lãng phí tài nguyên, khoáng sản chiến lược còn lớn, hiệu quả sử dụng nguồn lực tài nguyên thấp; vi phạm pháp luật trong khai thác tài nguyên còn xảy ra ở nhiều nơi.
Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém trên chủ yếu do cơ chế, chính sách phát triển ngành còn phân tán, chưa đồng bộ; thiếu chiến lược phát triển tổng thể, tầm nhìn dài hạn, đủ mạnh, tích hợp đồng bộ toàn bộ chuỗi giá trị vật liệu quốc gia; quy hoạch chồng chéo, dàn trải, chậm quy hoạch chuỗi chế biến sâu.
Đầu tư hạ tầng nghiên cứu và phát triển hệ thống các phòng thử nghiệm, kiểm định đạt chuẩn quốc tế còn hạn chế; liên kết giữa nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và sản xuất kinh doanh còn khoảng cách lớn; chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu; dự báo chưa sát nhu cầu thực tiễn, chưa gắn với năng lực công nghệ cốt lõi; tư duy quản lý còn thiếu tính tổng thể, phối hợp liên ngành chưa chặt chẽ.
Để thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững ngành công nghiệp vật liệu, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và các nghị quyết, kết luận của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, về phát triển năng lượng, giáo dục và đào tạo, quốc phòng, an ninh, Bộ Chính trị yêu cầu các cấp uỷ, tổ chức đảng, chính quyền, cơ quan quản lý nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể các cấp tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt một số nhiệm vụ trọng tâm.
Trong đó, quán triệt, thống nhất nhận thức công nghiệp vật liệu là ngành công nghiệp nền tảng, có yếu tố quyết định năng lực tự chủ chiến lược, năng lực cạnh tranh quốc gia và khả năng làm chủ các công nghệ lõi; là yếu tố đầu vào, điều kiện tiên quyết để phát triển các lĩnh vực thiết yếu và sản phẩm công nghệ chiến lược. Phát triển công nghiệp vật liệu là nhiệm vụ chiến lược của quốc gia, góp phần quan trọng thúc đẩy đất nước phát triển nhanh, bền vững, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, tự cường. Phát triển công nghiệp vật liệu có trọng tâm, trọng điểm, không dàn trải, manh mún...
Tiếp tục rà soát, hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật liên quan, nhất là pháp luật về khoáng sản, chuyển giao công nghệ, đầu tư, đất đai, môi trường theo hướng hiện đại, hội nhập, minh bạch, ổn định, tạo môi trường thuận lợi, an toàn cho đầu tư, kinh doanh trong lĩnh vực công nghiệp vật liệu. Nghiên cứu, ban hành theo thẩm quyền các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội để làm chủ công nghệ sản xuất vật liệu chiến lược, vật liệu giá trị cao, vật liệu phục vụ công nghiệp bán dẫn, năng lượng mới, quốc phòng, an ninh, vật liệu lưỡng dụng và vật liệu phục vụ các ngành công nghiệp tương lai.
Phát triển đồng bộ công nghiệp vật liệu theo 3 nhóm: Vật liệu cơ bản, vật liệu chiến lược và vật liệu tương lai.
Xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nguồn nhân lực chất lượng cao là động lực chủ yếu thúc đẩy phát triển công nghiệp vật liệu; các viện nghiên cứu, trường đại học là nền tảng cho nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng; doanh nghiệp Việt Nam, nhất là doanh nghiệp tư nhân, là trung tâm, chủ thể chính trong thương mại hoá công nghệ, tổ chức sản xuất, tham gia chuỗi cung ứng; khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là kênh quan trọng kết nối, chuyển giao công nghệ, mở rộng thị trường, tham gia mạng lưới sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu.
Có cơ chế thúc đẩy việc chuyển đổi, nâng cấp toàn diện các cơ sở sản xuất vật liệu theo hướng phát triển xanh, bền vững, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên và năng lượng, giảm phát thải khí nhà kính. Xây dựng và triển khai hiệu quả các cơ chế khuyến khích nghiên cứu, sản xuất và sử dụng vật liệu thân thiện môi trường, vật liệu thay thế, vật liệu không nung, vật liệu tái chế từ chất thải xây dựng, tro xỉ, phế thải công nghiệp.
Quản lý, giám sát chặt chẽ hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản, nhất là khoáng sản chiến lược; loại bỏ, chấm dứt hoạt động các cơ sở sử dụng công nghệ lạc hậu, gây lãng phí, thất thoát tài nguyên, ô nhiễm môi trường; xác lập nghĩa vụ bắt buộc về hoàn nguyên, phục hồi môi trường, phục hồi hệ sinh thái sau khai thác.
Tăng cường giám sát, thanh tra, kiểm tra; ứng dụng công nghệ số, dữ liệu vệ tinh trong giám sát sản lượng khai thác, chất lượng môi trường. Xử lý nghiêm hành vi vi phạm pháp luật về khoáng sản, môi trường, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, lợi ích nhóm trong quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên.
Đẩy mạnh hợp tác, hội nhập quốc tế; có cơ chế, chính sách ưu đãi đủ mạnh, đủ sức cạnh tranh để thu hút các dự án lớn, công nghệ cao, các tập đoàn công nghệ, doanh nghiệp vật liệu hàng đầu thế giới đầu tư, đặt trụ sở, trung tâm nghiên cứu và phát triển tại Việt Nam; gắn việc áp dụng các chính sách ưu đãi với yêu cầu tạo liên kết với các doanh nghiệp trong nước, đào tạo, chuyển giao công nghệ, tăng tỉ lệ nội địa hoá, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Chủ động lựa chọn đối tác chiến lược, đẩy mạnh hợp tác song phương, đa phương trong các lĩnh vực then chốt như vật liệu cho trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, lượng tử, quốc phòng, an ninh, năng lượng mới, năng lượng tái tạo.