Không thể phủ nhận vai trò đặc biệt của truyền thông trong việc huy động, lan tỏa và tổ chức sức dân tham gia giảm nghèo. Báo chí, truyền hình và các nền tảng số đã trở thành cầu nối đưa chính sách đến gần hơn với cộng đồng, đồng thời biểu dương tinh thần tự lực của người dân trong hành trình thoát nghèo. Chỉ trong hai năm gần đây, hơn 15.000 tin, bài, phóng sự, chương trình truyền hình về chủ đề giảm nghèo bền vững đã được đăng tải; nhiều chiến dịch lớn như “Kết nối trái tim – Lan tỏa yêu thương”, “Không để ai bị bỏ lại phía sau” thu hút hàng triệu lượt tương tác trên mạng xã hội, tạo hiệu ứng sâu rộng trong nhận thức cộng đồng.
Điều đáng ghi nhận là truyền thông không dừng lại ở việc vận động nguồn lực mà còn góp phần thay đổi cách nhìn về nghèo đói. Nếu trước đây xã hội thường xem người nghèo là đối tượng được trợ giúp, thì nay họ được nhìn nhận như chủ thể có khả năng vươn lên, có quyền và trách nhiệm trong phát triển. Khảo sát của Viện Nghiên cứu phát triển xã hội năm 2024 cho thấy 76% người dân đồng tình với quan điểm “thoát nghèo là trách nhiệm của bản thân, có sự hỗ trợ của cộng đồng”, tăng mạnh so với 48% năm 2016. Sự chuyển biến này phản ánh những tác động bền bỉ của truyền thông trong khơi dậy tinh thần tự cường và ý thức chủ động.
Một trong những dấu ấn nổi bật của truyền thông thời gian qua là góp phần thúc đẩy mở rộng mô hình đối tác công – tư (PPP) trong lĩnh vực an sinh và giảm nghèo. Đây là hướng đi hiệu quả, trong đó Nhà nước định hướng, doanh nghiệp đầu tư và cộng đồng thụ hưởng. Theo báo cáo của Bộ Tài chính, đến cuối năm 2024 cả nước có 156 dự án PPP liên quan đến giảm nghèo và phát triển cộng đồng, tổng vốn hơn 9.800 tỷ đồng. Doanh nghiệp đóng góp 60%, ngân sách nhà nước 30%, phần còn lại từ các quỹ xã hội. Không ít mô hình đã chứng minh hiệu quả rõ nét: Chương trình “Sinh kế xanh – Giảm nghèo bền vững” hỗ trợ điện mặt trời cho hơn 1.200 hộ dân miền Trung; mô hình “Hợp tác chuỗi nông sản công nghệ cao” giúp 3.000 hộ dân liên kết sản xuất – tiêu thụ sản phẩm OCOP; dự án “Ngôi trường hạnh phúc” 80 tỷ đồng hỗ trợ 2.500 học sinh vùng dân tộc thiểu số.
Những mô hình này không chỉ hỗ trợ trực tiếp người dân về sinh kế mà còn kích hoạt thị trường địa phương, tạo việc làm, gia tăng năng suất. Từ góc độ quản trị công, đây chính là sự kết nối hiệu quả giữa Nhà nước – Doanh nghiệp – Nhân dân, trong đó truyền thông đóng vai trò dẫn dắt, lan tỏa và nhân rộng.
Bên cạnh huy động nguồn lực trong nước, truyền thông cũng là cầu nối đưa các chương trình giảm nghèo đến với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Theo thống kê giai đoạn 2021–2024, kiều bào đã đóng góp hơn 6.500 tỷ đồng cho các hoạt động xã hội, trong đó gần 2.000 tỷ đồng dành cho các dự án giáo dục, y tế và sinh kế vùng nghèo. Quan trọng hơn, kiều bào còn mang về nguồn lực tri thức và công nghệ thông qua cố vấn khởi nghiệp, đào tạo nghề trực tuyến hay kết nối thị trường xuất khẩu sản phẩm nông thôn. Đây là nguồn lực bền vững, có giá trị lan tỏa lâu dài và được truyền thông góp phần thúc đẩy mạnh mẽ.
Nhìn rộng hơn, sự tham gia của truyền thông trong giảm nghèo bền vững không chỉ là nhiệm vụ thông tin – tuyên truyền, mà còn là chức năng kiến tạo môi trường xã hội để chính sách đi vào cuộc sống. Điều này đòi hỏi truyền thông phải tiếp tục trở thành bộ phận trong cơ chế thực thi chính sách. Nhiều chuyên gia đề xuất rằng giai đoạn 2025–2030 cần thể chế hóa vai trò của cộng đồng thông qua các mô hình mới: xây dựng Quỹ Phát triển cộng đồng cấp tỉnh để huy động vốn nhàn rỗi của dân cư và doanh nghiệp; thí điểm ngân hàng vi mô cộng đồng do người dân tự quản, có sự giám sát của Nhà nước; phát triển nền tảng số “Kết nối nguồn lực xã hội” nhằm công khai minh bạch thông tin tài trợ và kết quả thực hiện; đồng thời thúc đẩy doanh nghiệp xây dựng báo cáo trách nhiệm xã hội gắn với chỉ tiêu phát triển bền vững.
Khi cộng đồng – nói rộng hơn là nguồn lực xã hội – được thể chế hóa như một cấu phần của chiến lược giảm nghèo, thì giảm nghèo không còn là gánh nặng ngân sách mà trở thành phong trào phát triển xã hội toàn diện. Thực tiễn giai đoạn 2021–2025 cho thấy Việt Nam đang chuyển sang một mô hình quản trị xã hội mới, nơi mỗi người dân không chỉ là đối tượng thụ hưởng mà còn là chủ thể sáng tạo trong phát triển.
Trong quá trình đó, truyền thông giữ vai trò dẫn dắt tinh thần đoàn kết, khơi dậy tương thân tương ái và củng cố niềm tin xã hội – những giá trị tạo nên sức mạnh Việt Nam qua nhiều thế hệ. Phát huy sức mạnh truyền thông không chỉ để hoàn thành mục tiêu giảm nghèo, mà còn để xây dựng một xã hội biết sẻ chia, biết chung tay vì sự phát triển bền vững và nhân văn.