Việt Nam thực thi chủ quyền biển đảo

(NB&CL) Nhà nước phong kiến Việt Nam từ hàng trăm năm trước đã sớm có ý thức về bảo vệ sự toàn vẹn chủ quyền, cương thổ của Tổ quốc, trong đó có cương vực lãnh thổ trên biển, đặc biệt là khu vực hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Bài liên quan

UNCLOS 1982 - “Hiến pháp của biển”

Việt Nam thực thi UNCLOS 1982 - Hành trình 25 năm

Luật Biển và chủ quyền của Việt Nam

“Đường lưỡi bò” và sự nhìn nhận của thế giới về một yêu sách phi lý

Thềm lục địa, vùng đặc quyền kinh tế và quyền của Việt Nam

Từ “Đường lưỡi bò” đến âm mưu độc chiếm biển Đông

“Đường lưỡi bò” và sự nhìn nhận của thế giới về một yêu sách phi lý

Kỳ 1: Thực thi chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa: Nỗ lực của nhà nước phong kiến Việt Nam 

Bằng nhiều phương thức khác nhau, các triều đại phong kiến Việt Nam đã xác lập, thực thi chủ quyền trên biển Đông một cách hoà bình và liên tục trong suốt nhiều thế kỷ.

“Hồng Đức bản đồ” và tầm nhìn của vị vua anh minh

Lê Thánh Tông- người tạo lập nên một triều đại thịnh vượng vào bậc nhất, không chỉ là vị vua “cao siêu, anh minh quyết đoán, có hùng tài đại lược, võ giỏi văn hay” mà có lẽ còn là vị vua ý thức sâu sắc nhất, quyết liệt nhất về vấn đề chủ quyền lãnh thổ, trong đó có chủ quyền biển đảo.

Dưới thời Lê Thánh Tông, việc bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ đã trở thành mệnh lệnh thiêng liêng. Theo Đại Việt sử ký toàn thư , tháng 4 năm Quý Tỵ (1473), vua Lê Thánh Tông nói với các quan phụ trách việc biên cương, đứng đầu là Thái bảo Kiến Dương Bá Lê Cảnh Huy rằng: “Một thước núi, một tấc sông của ta lẽ nào lại nên vứt bỏ?... Nếu ngươi dám đem một thước một tấc đất của Thái Tổ làm mồi cho giặc, thì phải tội tru di”. Vua Lê Thánh Tông cho khắc tuyên ngôn bất hủ của mình trên núi Bài Thơ (Hòn Gai, Quảng Ninh): “Thiên Nam vạn cổ sơn hà tại” (Muôn thuở Trời Nam núi sông còn mãi). Ý thức chủ quyền quốc gia lãnh thổ đã trở thành một nguyên tắc tối thượng: Nếu một người nào đó, bất kể họ là ai, để mất vào tay kẻ thù dù chỉ một tấc đất của cha ông thì đều bị khép tội phản quốc và phải chịu hình phạt cao nhất của triều đình.

viet nam thuc thi chu quyen bien dao hinh 1

Đại Nam nhất thống toàn đồ.

Tinh thần quyết liệt bảo vệ chủ quyền lãnh thổ ấy đã được vua Lê Thánh Tông thể chế hoá thông qua Bộ luật Hồng Đức, trong đó những hành vi xâm phạm chủ quyền lãnh thổ, phá hoại an ninh quốc gia, trật tự xã hội vùng biên giới cho đến cả sự vô trách nhiệm, mất cảnh giác gây hậu quả xấu đến chủ quyền an ninh biên giới đều bị trừng trị rất nặng.  Bộ luật Hồng Đức cũng “quy trách nhiệm” ghi rõ và cụ thể của quan trấn giữ và cai quản ở biên giới, nếu vô trách nhiệm mất cảnh giác gây hậu quả nghiêm trọng cho chủ quyền và an ninh quốc gia đều bị tội chém.

Không chỉ rất quyết liệt trong việc bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, Lê Thánh Tông còn là vị vua đã sớm có ý thức về việc mở rộng lãnh thổ dân tộc. Trước những cuộc xâm lấn và gây rối của Chămpa, năm 1471, Lê Thánh Tông quyết định huy động 25 vạn quân do ông đích thân chỉ huy chinh phạt Chămpa. Cuộc chinh phạt giành thắng lợi, hạ được thành Vijaya. Chiến thắng Vijaya của Lê Thánh Tông không chỉ đánh sụp vương triều này, tiêu diệt tận gốc các thế lực gây rối mà còn tạo ra một bước ngoặt lịch sử trên con đường Nam tiến của dân tộc Việt.

Lê Thánh Tông còn là vị vua đầu tiên trong lịch sử Việt Nam tổ chức vẽ và ban bố bản đồ toàn quốc với tên gọi Hồng Đức bản đồ. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, từ năm 1467, vua Lê Thánh Tông đã ra lệnh điều tra hình thế sông núi thuộc địa phương để vẽ thành bản đồ, hai lần nhà vua giao cho bộ Hộ quy định những chi tiết do các quan địa phương tiến dâng để lập thành địa đồ toàn vẹn lãnh thổ Đại Việt. Triều đại vua Lê Thánh Tông cũng đã sớm thực thi chủ quyền biển đảo Việt Nam khi Bộ Hồng Đức Bản đồ, được hoàn thành vào cuối năm 1469, được bổ sung nhiều lần về sau, bao gồm bản đồ cả nước và các địa phương, trong đó có các vùng biển, đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Hàng trăm năm đã trôi qua, nhưng Hồng Đức Bản đồ - tấm bản đồ ghi dấu sự hiện diện của hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa - vẫn vẹn nguyên giá trị lịch sử vô giá khi xác lập biên giới quốc gia, khẳng định chủ quyền lãnh thổ trong đó có vùng biển, đảo, trong đó việc xác lập chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa thuộc Đại Việt cho đến hôm nay vẫn vẹn nguyên giá trị thời sự.

“Toản tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư” hay những nỗ lực liên tục của Triều Nguyễn trong việc thực thi chủ quyền biển đảo

Có thể nói, không chỉ thời vua Lê Thánh Tông, ngay từ khi bắt đầu xây dựng nền phong kiến độc lập tự chủ, ông cha ta đã có ý thức về bảo vệ sự toàn vẹn chủ quyền, cương thổ của Tổ quốc. Theo chiều dài lịch sử, nhà nước phong kiến Đại Việt nào, từ thời Đinh, Tiền Lê, đến đời Lý, Trần, ý thức về toàn vẹn lãnh thổ theo đó ngày càng mạnh mẽ, rõ ràng hơn. Tuy nhiên, điểm nhấn đáng kể trong việc xác lập chủ quyền biển đảo phải kể đến triều đại phong kiến thời nhà Nguyễn với “Toản tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư”.

Theo nhiều tài liệu, cuốn sách Toản tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư gồm 4 quyển được cho là do nho sinh họ Đỗ Bá, tên tự là Đạo Phủ (còn được gọi là Đỗ Bá Công Đạo) sưu tầm, biên soạn vào khoảng năm 1630 đến 1653. Chuyện kể rằng Đỗ Bá Công Đạo giả dạng lái buôn dong thuyền vượt biển vào Nam thăm dò hình thế sông núi, đường đi lối lại các nơi. Sau khi khảo sát kỹ càng, ông vẽ lại bản đồ xứ Đàng Trong rồi ra Bắc dâng lên Chúa. Chúa Trịnh rất mừng và tiếp tục cho ông soạn bộ Toản tập  Thiên Nam Tứ chí lộ đồ với 4 tập, gồm những bản đồ được chú giải rất tỷ mỉ.

Điều đặc biệt nhất cũng là một trong trong những điểm được xem là giá trị nhất của Toản tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư  là trong quyển 1 của thư tịch cổ này đã nhắc đến 3 chữ “Bãi cát vàng”. Cụ thể, Toản tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư có đoạn: “Ở làng Kim Hồ, trên hai bên bờ sông, có hai ngọn núi, mỗi ngọn đều có mỏ vàng được khai thác dưới sự kiểm soát của triều đình. Ở giữa biển, có một quần đảo dài 400 lý và rộng 200 lý có tên là “Bãi cát vàng” nhô lên từ đáy biển hướng về phía duyên hải giữa hai cảng Đại Chiêm và Sa Vinh. Vào mùa mưa tây - nam, các thương thuyền từ các quốc gia khác nhau qua lại gần bờ thường bị đắm ở các khu vực quần đảo này. Điều tương tự cũng xảy ra trong mùa mưa đông - bắc cho các thương thuyền qua lại trên vùng biển. Tất cả mọi người trên tàu bị đắm ở khu vực này thường bị chết đói. Nhiều loại thương thuyền khác nhau bị đắm trôi dạt vào đảo này. Mỗi năm trong suốt tháng cuối cùng của mùa đông, các Chúa nhà Nguyễn thường phái đến các đảo này một hạm đội gồm 18 tàu buồm để vớt các chiếc tàu đắm. Họ thu được rất nhiều vàng, bạc, tiền đúc, súng ống và đạn dược. Từ cảng Đại Chiêm phải mất một ngày rưỡi để đến quần đảo này, trong khi chỉ mất có một ngày nếu khởi đi từ Sa Kỳ”.

Những thông tin thể hiện trong Toản tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư  cho thấy rõ ràng cương giới xứ Đàng Trong do chúa Nguyễn quản lý từ cuối thế kỷ XVI đã mở rộng ra khu vực các quần đảo ở giữa Biển Đông. “Bãi cát vàng” mà Đỗ Bá Công Đạo nhắc tới chính là 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa ngày nay. Xưa kia, nhân dân xứ Đàng Trong đặt cho hai quần đảo này tên gọi nôm na là “Bãi cát vàng”. Tên gọi này chuyển sang âm Hán Việt là “Hoàng Sa”, “Hoàng Sa chử” sau đó được sử dụng chính thức trong các văn kiện, tài liệu của triều đình thời Lê và Nguyễn, như trong Đại Nam thực lục, Đại Nam nhất thống chí, Đại Nam nhất thống toàn đồ, tên gọi này được dùng để chỉ chung cả hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa ngày nay. Chừng ấy đã cho thấy 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa đã thuộc quyền kiểm soát và quản lý của người Việt. 

`Điều đáng nói là việc thực thi chủ quyền biển đảo, đặc biệt với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa dưới triều các vua nhà Nguyễn không chỉ có vậy. Trước khi lên ngôi hoàng đế (1802), Nguyễn Ánh từng nhờ người Pháp đo đạc giúp hải trình ở Biển Đông, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Sau khi lên ngôi, vua Gia Long tiếp tục chỉ dụ đo đạc, vẽ bản đồ ở Hoàng Sa và Trường Sa. Năm 1816 vua Gia Long đã sai người ra cắm cờ trên đảo Hoàng Sa.

Đặc biệt, hoạt động thực thi chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa được tiến hành liên tục và triệt để dưới triều Minh Mạng (1820 - 1841). Đơn cử như việc vua Minh Mạng phái người ra Hoàng Sa vẽ bản đồ, dựng miếu, lập bia đá và xây bình phong trước miếu…  Chuyện kể rằng, việc đo vẽ bản đồ Hoàng Sa và Trường Sa được coi trọng hết mức. Nhiều quan lại, quân lính bị phạt nặng do không hoàn tất công việc theo chỉ dụ của nhà vua, Bộ Công buộc họ phải làm lại. Nhờ các hoạt động đo đạc chi tiết, cẩn thận như vậy, những dữ liệu thu về đã giúp triều đình Minh Mạng hoàn thành bản đồ chính thức của nước Đại Nam vào năm 1838 mang tên Đại Nam nhất thống toàn đồ, trong đó ghi rõ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Chưa hết, các đội Hoàng Sa, Bắc Hải hoạt động mạnh và hiệu quả dưới thời Gia Long cho đến đầu thập kỷ 20 của thế kỷ 19 thì được tích hợp vào đội thủy quân của triều Nguyễn. Suốt thời kỳ nhà Nguyễn, thủy quân triều Nguyễn đều đặn đi vãng thám, đo đạc thủy trình, vẽ bản đồ, cắm mốc, dựng bia chủ quyền và rất nhiều hoạt động khác để thực thi chủ quyền trên hai quần đảo này.

Trong nỗ lực thực thi chủ quyền của triều Nguyễn còn có các tấm mộc bản- chúng tôi xin được tiếp tục đề cập tới trong Tư liệu số sau.

Hà Anh

Xem thêm

Tìm thấy, quy tập 879 hài cốt liệt sĩ tại Công viên Lê Thị Riêng

Tìm thấy, quy tập 879 hài cốt liệt sĩ tại Công viên Lê Thị Riêng

(CLO) Ngày 31/10, Bộ Tư lệnh TP Hồ Chí Minh cho biết, lực lượng tìm kiếm đã phát hiện, quy tập thêm 7 hài cốt liệt sĩ tại Khu B, Công viên Lê Thị Riêng, nâng tổng số hài cốt liệt sĩ được tìm thấy tại địa điểm này từ ngày 23/6 đến hết ngày 31/10/2026 lên 879 bộ.

Khoanh vùng nguy cơ cao, xác định trách nhiệm đến cấp xã trong ứng phó El Nino

Khoanh vùng nguy cơ cao, xác định trách nhiệm đến cấp xã trong ứng phó El Nino

(CLO) Để chủ động phòng, chống, ứng phó với các loại hình thiên tai do ảnh hưởng của El Nino năm 2026 - 2027, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng yêu cầu khoanh vùng khu vực, đối tượng có nguy cơ chịu tác động cao, xác định cụ thể biện pháp xử lý, nguồn lực và trách nhiệm thực hiện đến cấp xã; chủ động phương án bảo vệ, sơ tán người dân khi cần thiết, không để bị động, bất ngờ.

Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc: Bắt tay làm ngay, không đùn đẩy khi xây trung tâm dữ liệu giao thông

Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc: Bắt tay làm ngay, không đùn đẩy khi xây trung tâm dữ liệu giao thông

(CLO) Về triển khai Đề án "Xây dựng Trung tâm dữ liệu, quản lý, giám sát, xử lý vi phạm và điều hành giao thông giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2050", Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc yêu cầu các cơ quan, địa phương phải khẩn trương chuyển mục tiêu, yêu cầu của Đề án và kế hoạch thực hiện của Chính phủ thành những chương trình, nhiệm vụ cụ thể; bắt tay làm ngay, không đùn đẩy, né tránh.

Ninh Bình: Đón Bằng xếp hạng Di tích quốc gia Nhà lưu niệm Trần Huy Liệu

Ninh Bình: Đón Bằng xếp hạng Di tích quốc gia Nhà lưu niệm Trần Huy Liệu

(CLO) Ngày 31/10, xã Vụ Bản (tỉnh Ninh Bình) phối hợp với Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam và Viện Sử học Việt Nam tổ chức Lễ kỷ niệm 125 năm Ngày sinh Giáo sư, Viện sĩ Trần Huy Liệu (5/11/1901 - 5/11/2026), kỷ niệm 60 năm thành lập Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam và đón Bằng xếp hạng Di tích quốc gia Nhà lưu niệm Trần Huy Liệu.

Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn: Sẽ cung cấp sách giáo khoa miễn phí, dùng chung từ năm học 2028-2029

Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn: Sẽ cung cấp sách giáo khoa miễn phí, dùng chung từ năm học 2028-2029

(CLO) Giải trình trước Quốc hội sáng nay, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn đã làm rõ 6 nhóm vấn đề "nóng" được cử tri và đại biểu quan tâm. Trong đó, Bộ trưởng đưa ra lộ trình cụ thể về việc hoàn thiện một bộ sách giáo khoa dùng chung, cấp miễn phí, đồng thời nhấn mạnh các quyết sách giải quyết tình trạng thiếu giáo viên, bạo lực học đường và gian lận thi cử.

‘Căn bệnh’ độ trễ chính sách và bài học từ một quán hủ tiếu

‘Căn bệnh’ độ trễ chính sách và bài học từ một quán hủ tiếu

(CLO) Dẫn chứng bốn câu chuyện thực tiễn, đại biểu Quốc hội Trần Thị Vân khẳng định điểm nghẽn kinh tế hiện nay nằm ở cơ chế phản ứng chậm và tâm lý đùn đẩy trách nhiệm, chứ không phải do thiếu chính sách. Để khắc phục, bà kiến nghị cần dùng "độ trễ chính sách" làm thước đo đánh giá cán bộ và đổi mới tư duy quản lý nhằm bảo vệ những người dám nghĩ, dám làm.

Đại biểu Trịnh Xuân An: Chấm dứt cảnh ‘thấp thỏm’ mùa thi, thước đo tăng trưởng phải là sự tích lũy của người dân

Đại biểu Trịnh Xuân An: Chấm dứt cảnh ‘thấp thỏm’ mùa thi, thước đo tăng trưởng phải là sự tích lũy của người dân

(CLO) Phát biểu tại nghị trường, đại biểu Trịnh Xuân An (đoàn Đồng Nai) nhấn mạnh tăng trưởng kinh tế phải được đo lường bằng sự tích lũy thực chất của người dân. Đồng thời, ông kiến nghị một tầm nhìn dài hạn, bài bản cho giáo dục để chấm dứt cảnh phụ huynh và học sinh "thấp thỏm" mỗi mùa thi.

Xây dựng chuyên trang 'Hàng Việt vì người Việt' trên các cơ quan báo chí, truyền thông

Xây dựng chuyên trang 'Hàng Việt vì người Việt' trên các cơ quan báo chí, truyền thông

(CLO) Chương trình “Hàng Việt vì người Việt” giai đoạn 2026 - 2030 đặt mục tiêu xây dựng, vận hành và phát triển chuyên trang "Hàng Việt vì người Việt" trên các cơ quan truyền thông, báo chí cập nhật thông tin về sản phẩm, doanh nghiệp, địa phương, điểm bán và các hoạt động của Chương trình.

Hòa thượng Thích Thanh Quyết: ‘Vị tha là sống mãi, phúc đức là vô lượng’

Hòa thượng Thích Thanh Quyết: ‘Vị tha là sống mãi, phúc đức là vô lượng’

(CLO) Phát biểu tại nghị trường chiều 30/10, Hòa thượng Thích Thanh Quyết (đoàn Quảng Ninh) ủng hộ dự án Luật Hiến, lấy, ghép mô, tạng và bày tỏ sự thấu cảm với những áp lực của ngành Y tế. Ông cũng đưa ra các đề xuất căn cơ cho ngành giáo dục và cảnh báo hệ lụy từ mặt trái của xã hội số.

Giải mã nghịch lý nền kinh tế 'khát vốn': Gỡ vướng pháp lý, mở ‘đường dẫn vốn’ cho doanh nghiệp

Giải mã nghịch lý nền kinh tế 'khát vốn': Gỡ vướng pháp lý, mở ‘đường dẫn vốn’ cho doanh nghiệp

(CLO) Nền kinh tế khát vốn dài hạn dù tiền gửi dân cư và lượng vàng tích trữ đang ở mức kỷ lục. Bóc tách nguyên nhân khiến hàng ngàn dự án tồn đọng và doanh nghiệp tìm đường ra nước ngoài, các đại biểu Quốc hội nhấn mạnh phải tháo gỡ triệt để điểm nghẽn thể chế, siết kỷ luật ngân sách để mở đường dẫn vốn vào sản xuất.

Cỡ chữ bài viết: