Đây được xem là văn bản mang tính đột phá, thiết lập một hệ sinh thái nghiên cứu tiên tiến, kiến tạo nền tảng công nghệ lõi và nâng cao vị thế cạnh tranh của quốc gia trên trường quốc tế.
Chuyển đổi tư duy: Chấp nhận rủi ro và đầu tư dài hạn
Một trong những điểm sáng lớn nhất của Chương trình nghiên cứu cơ bản xuất sắc trong lĩnh vực khoa học tự nhiên giai đoạn 2026 - 2035 là sự thay đổi căn bản trong triết lý quản lý và tài trợ khoa học.
Cụ thể, Bộ Khoa học và Công nghệ quyết định chuyển từ mô hình tài trợ các nhiệm vụ nghiên cứu đơn lẻ, mang tính ngắn hạn sang định hướng đầu tư trung và dài hạn. Chiến lược mới sẽ ưu tiên các cụm nhiệm vụ và chuỗi nhiệm vụ nhằm đảm bảo tính liên tục, giúp các nhà khoa học tích lũy tri thức và định hình năng lực dẫn dắt.
Đặc biệt, nhằm khơi dậy sức sáng tạo tối đa, chương trình khuyến khích các ý tưởng khoa học mới, có tính đột phá và thẳng thắn chấp nhận rủi ro khoa học – vốn là một đặc thù tất yếu của nghiên cứu cơ bản.
Công tác quản lý sẽ chuyển dịch sang đánh giá dựa trên kết quả đầu ra và tác động khoa học thực tế, bảo đảm tuân thủ liêm chính học thuật và các chuẩn mực quốc tế.
Việc lựa chọn và đánh giá nhiệm vụ sẽ diễn ra minh bạch, cạnh tranh thông qua các chỉ số khoa học chuẩn hóa được thế giới thừa nhận như FWCI hay CNCI.
Gắn nghiên cứu cơ bản với công nghệ lõi mũi nhọn
Chương trình nghiên cứu cơ bản xuất sắc trong lĩnh vực khoa học tự nhiên giai đoạn 2026 - 2035 không đầu tư dàn trải mà đi theo hướng tập trung, có trọng điểm và chiều sâu. Các nghiên cứu cơ bản sẽ được gắn kết chặt chẽ với những hướng phát triển công nghệ chiến lược và các sản phẩm chiến lược cụ thể.
Văn bản định hướng rõ các lĩnh vực ưu tiên phát triển có tiềm năng tạo đột phá cho Việt Nam bao gồm: công nghệ lượng tử, trí tuệ nhân tạo (AI), vật liệu tiên tiến, công nghệ sinh học, năng lượng mới và công nghệ bán dẫn.
Mục tiêu đến năm 2030, chương trình sẽ định hình ít nhất 10 hướng nghiên cứu mới, trong đó tối thiểu 3 hướng có khả năng phát triển thành nền tảng công nghệ lõi.
Đến năm 2035, sẽ hình thành thêm ít nhất 10 hướng nghiên cứu mới với tối thiểu 5 hướng tạo nền tảng công nghệ lõi. Đồng thời, phấn đấu đến năm 2035, có ít nhất 20% số nhiệm vụ thuộc các hướng nghiên cứu này đủ điều kiện đăng ký sáng chế quốc tế hoặc chuyển tiếp thành sản phẩm công nghệ chiến lược.
Lộ trình nâng tầm vị thế học thuật quốc tế
Để cụ thể hóa khát vọng vươn tầm, chương trình đặt ra các chỉ tiêu định lượng vô cùng khắt khe về chất lượng học thuật và phát triển nguồn nhân lực trình độ cao.
Về quy mô và chất lượng nghiên cứu, Việt Nam kỳ vọng đến năm 2030 sẽ xây dựng được khoảng 30 nhóm nghiên cứu mạnh, trong đó có ít nhất 3 nhóm đạt năng lực dẫn dắt tầm khu vực. Quy mô này sẽ mở rộng lên khoảng 50 nhóm vào năm 2035, với ít nhất 10 nhóm vươn tầm dẫn dắt khu vực và có ảnh hưởng học thuật quốc tế rõ nét.
Về chất lượng công bố, tỷ lệ bài báo khoa học xuất hiện trên các tạp chí nhóm Q1 (thuộc cơ sở dữ liệu Web of Science) và hệ thống Nature Index phải tăng khoảng 1,5 lần vào năm 2030 và khoảng 2 lần vào năm 2035 so với mức trung bình của giai đoạn 2021 - 2025.
Đặc biệt, Bộ Khoa học và Công nghệ đặt mục tiêu đến năm 2030 phải có ít nhất 1 hướng nghiên cứu tiệm cận nhóm 5% thế giới về mức độ ảnh hưởng khoa học, và tăng lên ít nhất 3 hướng vào năm 2035.
Bên cạnh đó, chiến lược nhân sự và hội nhập quốc tế cũng được đẩy mạnh. Chương trình nghiên cứu cơ bản xuất sắc trong lĩnh vực khoa học tự nhiên giai đoạn 2026 - 2035 dự kiến đến năm 2030 sẽ bồi dưỡng, hỗ trợ ít nhất 500 tiến sĩ, nghiên cứu sinh và nhà khoa học trẻ, tạo ra 100 nhân tố xuất sắc đủ khả năng dẫn dắt nhóm nghiên cứu độc lập mang tầm quốc tế.
Lực lượng này sẽ tăng lên 1.000 chuyên gia và 200 nhà khoa học trẻ dẫn dắt vào năm 2035. Song song đó, chương trình sẽ triển khai 300 nhiệm vụ hợp tác nghiên cứu quốc tế đến năm 2035, với yêu cầu bắt buộc mỗi nhóm nghiên cứu mạnh phải có ít nhất 1 đối tác quốc tế chiến lược.
Cơ chế tài chính linh hoạt và tổ chức thực hiện
Để bảo đảm nguồn lực thực hiện những mục tiêu tham vọng trên, ngân sách nhà nước sẽ cấp kinh phí hằng năm thông qua nguồn chi sự nghiệp khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đồng thời, chương trình cũng khuyến khích cơ chế đa dạng hóa, đẩy mạnh huy động các nguồn lực hợp pháp, nguồn đồng tài trợ từ doanh nghiệp và các tổ chức quốc tế.
Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia (NAFOSTED) được giao trọng trách chủ trì, trực tiếp điều hành Chương trình nghiên cứu cơ bản xuất sắc trong lĩnh vực khoa học tự nhiên giai đoạn 2026 - 2035.
Kinh phí sẽ từng bước được cấp theo gói, gắn liền với quyền tự chủ, trách nhiệm giải trình và kết quả đầu ra thực tế của các nhóm nghiên cứu. Những nhóm nghiên cứu huy động được nguồn đồng tài trợ từ bên ngoài sẽ được ưu tiên bố trí kinh phí.
Nhằm bảo đảm tính thực tiễn và khả năng thích ứng linh hoạt, Chương trình nghiên cứu cơ bản xuất sắc trong lĩnh vực khoa học tự nhiên giai đoạn 2026 - 2035 sẽ trải qua một đợt đánh giá độc lập giữa kỳ vào năm 2030.
Kết quả của đợt đánh giá này sẽ là cơ sở quan trọng để Bộ Khoa học và Công nghệ kịp thời điều chỉnh mục tiêu, quy mô cũng như hoàn thiện cơ chế triển khai cho chặng đường hướng tới năm 2035.
Quy định này chính thức có hiệu lực kể từ ngày ký 25/5/2026.