Đầu tháng 8/2026, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) ban hành Văn bản số 7125 gửi các ngân hàng thương mại và NHNN chi nhánh khu vực, yêu cầu triển khai chương trình tín dụng hướng tới các động lực tăng trưởng kinh tế và doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME).
Thực hiện chỉ đạo, nhiều ngân hàng đã nhanh chóng đưa ra các chương trình tín dụng ưu đãi, với lãi suất thấp hơn khoảng 1-2 điểm %/năm so với mức lãi suất cho vay bình quân cùng kỳ hạn của từng ngân hàng trong từng thời kỳ.
Trong nhóm Big4, các ngân hàng đã công bố những chương trình tín dụng với tổng quy mô khoảng 220.000 tỷ đồng, lớn nhất là Agribank với gói 70.000 tỷ đồng; các ngân hàng còn lại có gói 50.000 tỷ đồng.
Không đứng ngoài cuộc, nhiều ngân hàng thương mại cổ phần như Sacombank, Nam A Bank, MSB, BVBank, NCB và LPBank cũng triển khai các gói tín dụng ưu đãi với quy mô nhỏ hơn nhưng mức giảm lãi suất tương đối cạnh tranh.
Nguồn vốn được các ngân hàng tập trung vào SME, doanh nghiệp và cá nhân sản xuất, kinh doanh trong các lĩnh vực ưu tiên và những động lực tăng trưởng của nền kinh tế. Các lĩnh vực được ưu tiên gồm nông nghiệp, nông thôn, công nghiệp hỗ trợ, công nghệ cao, xuất khẩu, kinh tế số, trí tuệ nhân tạo (AI), công nghiệp bán dẫn, chế biến, chế tạo và các dự án thuộc danh mục phân loại xanh theo quy định.
Việc các ngân hàng đồng loạt đưa ra các gói tín dụng ưu đãi cho thấy nguồn vốn dành cho khu vực doanh nghiệp đang được mở rộng. Tuy nhiên, với nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là nhóm SME, vấn đề không chỉ nằm ở quy mô hay lãi suất của các gói tín dụng, mà còn ở cách thiết kế sản phẩm vốn và tiêu chí tiếp cận.
Mỗi doanh nghiệp có nhu cầu vốn, khả năng tài chính và tài sản bảo đảm khác nhau. Trong khi đó, không phải doanh nghiệp nào cũng có đủ tài sản thế chấp hoặc dòng tiền ổn định để đáp ứng các điều kiện vay truyền thống.
Vì vậy, để dòng vốn thực sự đến được khu vực kinh tế tư nhân, cần đa dạng hóa các hình thức tài trợ, phù hợp với từng giai đoạn phát triển và nhu cầu của doanh nghiệp.
Một báo cáo từ Văn phòng Ban Nghiên cứu Phát triển Kinh tế tư nhân (Ban IV) nhận định: Giải bài toán vốn cho khu vực kinh tế tư nhân, đòi hỏi một sự thay đổi trong cách tiếp cận.
TS Bùi Thanh Minh, Phó Giám đốc Ban IV kiến nghị cần thiết kế các tầng vốn khác nhau cho nhu cầu khác nhau của doanh nghiệp.
Thứ nhất là vốn nền cho số đông doanh nghiệp. Bao gồm vốn lưu động, bao thanh toán, tài trợ chuỗi cung ứng, cho thuê tài chính và bảo lãnh tín dụng dành cho doanh nghiệp có hoạt động thực, có đơn hàng và dòng tiền nhưng thiếu tài sản thế chấp.
Thứ hai là vốn chuyển đổi, bao gồm: Tín dụng trung và dài hạn, tín dụng xanh, cho thuê thiết bị, quỹ tiết kiệm năng lượng và chương trình hỗ trợ chuyển 4 đổi số phải hướng vào những khoản đầu tư có thể đo được mức tăng năng suất, giảm phát thải, tăng khả năng truy xuất nguồn gốc và nâng tỷ lệ nội địa hóa.
Thứ ba là vốn chấp nhận rủi ro cho đổi mới sáng tạo. Quỹ đầu tư mạo hiểm, nhà đầu tư thiên thần, quỹ đầu tư tư nhân, cơ chế đồng đầu tư, ưu đãi nghiên cứu và phát triển, định giá tài sản trí tuệ và khung thử nghiệm có kiểm soát cần được phát triển đồng bộ. Không thể yêu cầu mọi dự án công nghệ phải có ngay dòng tiền ổn định và bất động sản làm tài sản bảo đảm.
“Hệ thống tài chính muốn phục vụ đổi mới phải có một phần vốn chấp nhận xác suất thất bại, nhưng quản trị rủi ro bằng danh mục, mốc kết quả và cơ chế thoái vốn minh bạch”, ông cho hay.
Thứ tư là vốn liên kết và tăng trưởng.
Theo TS Bùi Thanh Minh, Nghị quyết 10 đặt ra yêu cầu dòng vốn FDI không chỉ bổ sung tiền mà phải tạo chuyển giao công nghệ, phát triển nhà cung ứng và liên kết với doanh nghiệp trong nước.
Vì vậy, các chương trình tín dụng, bảo lãnh, đồng tài trợ và phát triển nhà cung ứng cần ưu tiên doanh nghiệp Việt Nam có khả năng đáp ứng tiêu chuẩn của tập đoàn lớn, doanh nghiệp FDI và chuỗi toàn cầu.
Đồng thời, các doanh nghiệp tư nhân có khả năng dẫn dắt cần tiếp cận thị trường cổ phiếu, trái phiếu, tài trợ dự án và vốn mua bán, sáp nhập, nhưng phải gắn với quản trị hiện đại, cạnh tranh lành mạnh và khả năng kéo theo hệ sinh thái trong nước. Vốn thường tự tìm đến nơi an toàn nhất chứ không tự động tìm đến nơi có ích nhất cho tăng trưởng dài hạn.
“Trong bối cảnh hiện nay, vấn đề không chỉ là huy động thêm vốn cho kinh tế tư nhân, mà là làm thế nào cho vốn chảy đúng chỗ: vào sản xuất, công nghệ, đổi mới sáng tạo, liên kết chuỗi và tương lai của doanh nghiệp Việt Nam”, ông nhấn mạnh.