Không để cơ chế đặc thù bị dàn trải, làm phân tán nguồn lực quốc gia
Ngày 11/8, giải trình trước Quốc hội về dự án Luật Phát triển đô thị, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng nhấn mạnh, dự án Luật hướng tới tạo lập một hành lang pháp lý ổn định, có tính đột phá nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, hạ tầng và nguồn lực. Qua đó, thúc đẩy các đô thị động lực.
Quan điểm xuyên suốt trong quá trình xây dựng dự án Luật là thể chế hóa kịp thời, đầy đủ chủ trương của Đảng; chuyển từ tư duy quản lý chặt sang kiến tạo phát triển; thực hiện phân quyền triệt để theo phương châm “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”.
Bộ trưởng nhấn mạnh, dự thảo được thiết kế là một đạo luật khung về phân quyền, chỉ quy định những vấn đề có tính nguyên tắc thuộc thẩm quyền của Quốc hội, đồng thời gắn chặt việc trao quyền với cơ chế kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình.
Trước đề nghị của một số đại biểu về việc cho phép các thành phố chưa được công nhận là đô thị đặc biệt được áp dụng ngay cơ chế, chính sách vượt trội dành cho đô thị đặc biệt, không cần giao Chính phủ quyết định, Bộ trưởng cho rằng việc mở rộng cơ chế cần được thực hiện thận trọng và có kiểm soát.
Theo đó, dự thảo giao Chính phủ quyết định việc áp dụng cơ chế đặc thù đối với các thành phố chưa được công nhận là đô thị đặc biệt, với điều kiện phải có chủ trương của cấp có thẩm quyền được xác định là Bộ Chính trị, cùng các điều kiện khác quy định tại khoản 3 Điều 1 dự thảo Luật.
Việc trao cơ chế vượt trội phải tương xứng với năng lực thực thi của từng địa phương. Những chính sách đột phá đòi hỏi trình độ quản trị và nguồn lực tài chính rất cao, về cơ bản phù hợp với các thành phố đã được công nhận là đô thị đặc biệt. Việc giao Chính phủ xem xét, quyết định sẽ tạo điều kiện đánh giá sát thực tế năng lực của từng địa phương trước khi trao quyền, qua đó bảo đảm tính khả thi của chính sách.
Bên cạnh đó, cơ chế này nhằm giữ vững tính thống nhất của hệ thống pháp luật. Nếu mở rộng đại trà quyền ban hành các quy định khác với quy định của Trung ương, có thể dẫn đến nguy cơ phá vỡ khuôn khổ pháp lý quốc gia hoặc “địa phương hóa” pháp luật.
Quy định tại khoản 3, Điều 1 cũng tạo sự linh hoạt, kịp thời trong điều hành. Chính phủ có thể chủ động áp dụng chính sách cho những cực tăng trưởng mới theo lộ trình phát triển mà không phải chờ sửa luật hoặc trình Quốc hội ban hành một nghị quyết đặc thù riêng.
Đối với những cơ chế đặc thù nhằm phát huy tiềm năng, thế mạnh của địa phương, thành phố chưa phải đô thị đặc biệt và chưa được quy định trong Luật, dự thảo quy định Chính phủ phải báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội trước khi ban hành và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.
Bên cạnh đó, việc kiểm soát phạm vi áp dụng còn nhằm tránh tình trạng dàn trải, phân tán nguồn lực; hạn chế nguy cơ các địa phương chạy đua ưu đãi, dẫn đến cạnh tranh không lành mạnh, làm phân tán nguồn lực quốc gia và xói mòn ý nghĩa của cơ chế đặc thù.
Trao quyền để phát triển, không mở đường hợp thức hóa sai phạm
Theo Bộ trưởng, cơ quan soạn thảo sẽ tiếp tục nghiên cứu ý kiến đại biểu để hoàn thiện Điều 1, nhất là các nguyên tắc, điều kiện và giới hạn làm căn cứ cho Chính phủ quyết định áp dụng chính sách đặc thù, bảo đảm chặt chẽ, khả thi.
Bộ trưởng khẳng định, bảo đảm quốc phòng, an ninh là nguyên tắc nền tảng, xuyên suốt quá trình xây dựng dự án Luật. Việc phân quyền và thực hiện nhiệm vụ được phân quyền không được xâm phạm quốc phòng, an ninh, đối ngoại và chủ quyền quốc gia.
Theo dự thảo, các thành phố thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật không được ban hành văn bản quy định khác hoặc thí điểm cơ chế, chính sách trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đối ngoại và tôn giáo. Thủ tướng Chính phủ có quyền đình chỉ, bãi bỏ văn bản của địa phương nếu xét thấy văn bản đó ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, quốc phòng, an ninh.
Trong lĩnh vực quy hoạch, việc lập, điều chỉnh quy hoạch tổng thể thành phố và các quy hoạch không gian đặc thù, bao gồm không gian ngầm, không gian tầm thấp và tầm cao, bắt buộc phải lấy ý kiến và có sự thống nhất bằng văn bản của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an.
Về cơ chế kiểm soát quyền lực, Bộ trưởng Hoàng Thanh Tùng cho biết, dự thảo Luật được thiết kế theo mô hình phân quyền triệt để gắn với kiểm soát đa tầng, đáp ứng yêu cầu “có van, có khóa”.
Trước hết là những “van điều tiết” và các nguyên tắc nền tảng. Tại Điều 3 và Điều 4, dự thảo đã xác lập những giới hạn nhằm bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, an toàn tài chính quốc gia và tôn trọng quy luật thị trường. Việc phân quyền không được ảnh hưởng đến các yêu cầu này. Mọi cơ chế đặc thù đều loại trừ lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đối ngoại, tôn giáo và trong quá trình thực hiện Luật phải bảo đảm quyền con người, quyền công dân và giữ gìn bản sắc văn hóa.
Trong quản lý tài chính và đầu tư, việc huy động vốn, phát hành trái phiếu và vay nợ phải nằm trong hạn mức nợ công được phê duyệt, bảo đảm rủi ro thuộc trách nhiệm của địa phương. Đối với các dự án lớn, Chính phủ vẫn giữ quyền quyết định mức bổ sung ngân sách có mục tiêu, qua đó bảo đảm vai trò chủ đạo của ngân sách Trung ương.
Giải trình ý kiến đối với các dự án chậm triển khai, chính sách đặc biệt chỉ được áp dụng khi đã có kết luận thanh tra hoặc bản án có hiệu lực pháp luật. Dự thảo nghiêm cấm việc lợi dụng cơ chế đặc thù để hợp pháp hóa những sai phạm do tham nhũng, trục lợi.
Cùng với kiểm soát ngay trong quá trình ban hành và thực hiện chính sách, dự thảo còn thiết lập cơ chế hậu kiểm thông qua hoạt động giám sát từ xa, giám sát định kỳ của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Theo Bộ trưởng, việc chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm phải gắn với trách nhiệm giải trình cá nhân của người đứng đầu. Đây là chốt chặn cuối cùng trong kiểm soát quyền lực khi triển khai Luật. Cơ chế kiểm soát cũng không chỉ được thể hiện tại chương 4 về giám sát, thanh tra, kiểm tra và trách nhiệm giải trình, mà phải xuyên suốt từng cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội.