Chiều 10/8, thảo luận về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, đại biểu Quốc hội Dương Khắc Mai (đoàn Lâm Đồng) bày tỏ quan tâm đến trường hợp cố ý cung cấp thông tin sai lệch theo pháp luật về tiếp cận thông tin.
Đại biểu phân tích dự thảo hiện quy định theo hướng Nhà nước bồi thường đối với hành vi cố ý cung cấp thông tin sai lệch “mà không đính chính và không cung cấp lại thông tin”. Đại biểu cho rằng cần được xem lại cách thiết kế quy định này.
Ông Dương Khắc Mai cho rằng khi phát hiện thông tin sai thì phải kịp thời đính chính, cung cấp lại thông tin đúng, đây là điều đương nhiên. Quy định như dự thảo có thể dẫn đến cách hiểu rằng cơ quan hoặc người thi hành công vụ đã cố ý cung cấp thông tin sai lệch, thiệt hại thực tế đã xảy ra, nhưng sau đó chỉ cần thực hiện đính chính thì Nhà nước không còn trách nhiệm bồi thường.
“Điều này chưa phản ánh đúng bản chất của trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Khi xem xét một thiệt hại đã phát sinh, yếu tố cốt lõi phải là hành vi trái pháp luật, thiệt hại thực tế và quan hệ nhân quả giữa hành vi với thiệt hại. Đính chính là biện pháp khắc phục hậu quả; nó có thể làm giảm thiệt hại, ngăn chặn thiệt hại tiếp tục phát sinh, nhưng không thể làm cho phần thiệt hại đã xảy ra trước đó đương nhiên biến mất", ông Dương Khắc Mai cho hay nội dung này ông đã phát biểu tại phiên thảo luận Tổ nhưng chưa được thể hiện trong báo cáo tiếp thu, giải trình bước đầu của cơ quan chủ trì soạn thảo.
Đại biểu dẫn chứng nếu một thông tin sai lệch do cơ quan nhà nước cung cấp đã được cá nhân, tổ chức sử dụng để thực hiện một giao dịch và thiệt hại đã phát sinh thì việc cơ quan đó đính chính sau thời điểm này không thể là căn cứ để loại trừ toàn bộ trách nhiệm bồi thường.
Ông đề nghị bỏ cụm từ “mà không đính chính và không cung cấp lại thông tin” tại khoản 7 Điều 17 và đề nghị sửa thành: “Cố ý cung cấp thông tin sai lệch theo pháp luật về tiếp cận thông tin, gây thiệt hại; việc đính chính hoặc cung cấp lại thông tin được xem xét khi xác định phạm vi, mức độ thiệt hại và mức bồi thường”.
Đồng thời, đại biểu đề nghị tiếp tục rà soát quy định này với pháp luật về tiếp cận thông tin để bảo đảm xác định đúng hành vi trái pháp luật làm phát sinh trách nhiệm bồi thường, không bỏ sót nhưng cũng không mở rộng thiếu kiểm soát.
Ông Dương Khắc Mai sau đó tiếp tục đóng góp ý kiến về việc lập dự toán và quyết toán kinh phí thực hiện công tác bồi thường (quy định tại khoản 29 Điều 1 sửa đổi Điều 61). Theo đại biểu, đây là nội dung cần được cân nhắc kỹ hơn, bởi nếu cơ chế tài chính không vận hành được thì dù Luật rút ngắn bao nhiêu thủ tục, quyền được bồi thường của người dân cuối cùng vẫn có thể bị chậm ở khâu chi trả.
Khoản 1 Điều 61 của dự thảo quy định hằng năm các cơ quan nhà nước có trách nhiệm lập dự toán kinh phí thực hiện công tác bồi thường. Như vậy, so với cơ chế hiện hành với đầu mối lập dự toán tương đối tập trung tại cơ quan tài chính, dự thảo chuyển sang hướng phân tán trách nhiệm lập dự toán cho các cơ quan nhà nước.
Tuy nhiên, trên thực tế, không phải cơ quan nào năm nào cũng phát sinh trách nhiệm bồi thường; nếu tất cả các cơ quan đều phải lập dự toán thì nguồn lực có nguy cơ bị chia nhỏ, trong khi khoản bồi thường lại có tính bất thường, rất khó dự liệu chính xác.
Đại biểu ghi nhận Báo cáo tiếp thu, giải trình đã đánh giá các ý kiến về dự toán, tạm ứng, cấp bổ sung và quyết toán kinh phí là xác đáng, đồng thời dự kiến giao Chính phủ quy định chi tiết. Tuy nhiên, theo ông, vấn đề này không chỉ là trình tự, thủ tục để giao Chính phủ xử lý, mà trước hết là lựa chọn mô hình bảo đảm kinh phí: lập dự toán phân tán tại từng cơ quan hay tập trung tại một đầu mối của từng cấp ngân sách.
"Đây là vấn đề chính sách cần được xác định rõ ngay trong Luật”, ông Dương Khắc Mai nhấn mạnh.
Từ phân tích trên, đại biểu đề nghị nghiên cứu theo hướng duy trì một đầu mối dự toán tương đối tập trung, về cơ bản là cơ quan tài chính ở trung ương và địa phương. Đồng thời, thiết kế cơ chế dự phòng, bổ sung kinh phí khi phát sinh nghĩa vụ bồi thường. Cách tiếp cận này phù hợp hơn với đặc điểm của khoản chi bồi thường nhà nước: tần suất phát sinh thấp nhưng giá trị từng vụ việc có thể rất lớn và không thể dự báo chính xác theo từng cơ quan.
Cùng với đó, Luật cần xác lập ít nhất 3 nguyên tắc: Một là, phải có cơ chế cấp bổ sung khi kinh phí đã bố trí không đủ. Hai là, phải có thời hạn cụ thể để cơ quan có thẩm quyền xử lý việc cấp kinh phí. Ba là, việc chưa bố trí đủ hoặc đang làm thủ tục bổ sung dự toán không được trở thành lý do kéo dài quyền nhận tiền bồi thường của người bị thiệt hại.
Chính phủ có thể quy định hồ sơ, trình tự cụ thể, nhưng các nguyên tắc này nên được thể hiện ngay trong Luật để bảo đảm Điều 61 vận hành đồng bộ với thời hạn chi trả rất ngắn tại Điều 62.
“Nếu không xử lý được điểm này thì có thể xuất hiện một nghịch lý: Luật quy định cơ quan phải chi trả rất nhanh, nhưng cơ chế ngân sách lại chưa bảo đảm có tiền để thực hiện đúng thời hạn đó”, đại biểu Quốc hội Dương Khắc Mai nêu rõ.