Sau khi điều tiết số giáo viên nơi thừa sang nơi thiếu, bậc mầm non và phổ thông (từ lớp 1 đến lớp 12) vẫn thiếu gần 98.000 người. Trong đó, Ngoại ngữ là môn thiếu giáo viên nhiều nhất với khoảng 11.400 người. Giáo dục thể chất thiếu 9.400, Tin học 6.430, Nghệ thuật 4.800 và Công nghệ 4.400 giáo viên.
Để bổ sung nguồn nhân lực, Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thông tư 91/2026/TT-BGDĐT về chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho người có nguyện vọng trở thành giáo viên phổ thông, có hiệu lực từ ngày 8/12.
Bên cạnh đó, Bộ dự kiến điều chỉnh định mức tiết dạy, theo hướng mỗi giáo viên tăng thêm 35-70 tiết mỗi năm.
Mở rộng nguồn tuyển nhưng khó tìm đúng người
Đánh giá về khả năng giải quyết bài toán thiếu giáo viên từ chính sách mới, GS.TS.NGƯT Nguyễn Quý Thanh, nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội, cho rằng câu trả lời là vừa có, vừa không.
Theo ông, xét dưới góc độ cung - cầu nhân lực, việc cho phép người có bằng cử nhân hoặc sinh viên đã tích lũy tối thiểu 70% khối lượng học tập đại học thuộc ngành phù hợp tham gia bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm là giải pháp tình thế cần thiết. Chính sách giúp khơi thông dòng nhân lực từ khu vực ngoài sư phạm vào hệ thống giáo dục phổ thông, mở thêm cơ hội thu hút những người có nguyện vọng chuyển sang nghề dạy học.
Tuy nhiên, đây chưa thể được xem là giải pháp đủ sức xử lý dứt điểm tình trạng thiếu giáo viên, bởi thị trường đang tồn tại sự lệch pha đáng kể giữa nguồn cung và nhu cầu thực tế.
Các môn thiếu giáo viên nhiều nhất hiện nay như Tin học, Công nghệ, Nghệ thuật (Âm nhạc, Mỹ thuật) và Ngoại ngữ cũng là những lĩnh vực có sức hút lớn trên thị trường lao động. Người có chuyên môn trong các ngành này có nhiều lựa chọn việc làm ngoài trường học, với cơ hội thu nhập cao hơn và môi trường nghề nghiệp đa dạng.
"Đây lại chính là những lĩnh vực mà nguồn nhân lực xã hội ngoài sư phạm ít có nguyện vọng chuyển sang làm giáo dục, hoặc nếu có thì thu nhập từ thị trường tự do của họ cũng cao hơn nhiều so với ngành giáo dục nên không mặn mà đăng ký học nghiệp vụ sư phạm", ông Thanh phân tích.
Ở chiều ngược lại, nguồn cử nhân có nguyện vọng tham gia các chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm có thể tập trung nhiều hơn ở những ngành như Toán học, Ngữ văn. Đây lại là các môn học mà nhiều trường phổ thông tương đối bão hòa hoặc không thiếu hụt cục bộ ở mức quá lớn.
Vì vậy, theo chuyên gia, mở rộng đối tượng được đào tạo nghiệp vụ sư phạm mới chỉ giải quyết một phần bài toán đầu vào, chưa chắc đáp ứng đúng những vị trí đang khuyết thiếu nghiêm trọng.
Thu nhập, môi trường làm việc vẫn là nút thắt
Theo GS Thanh, tình trạng thiếu giáo viên hiện nay không đơn thuần xuất phát từ việc thiếu nguồn tuyển mà là hệ quả đan xen của nhiều nguyên nhân mang tính cấu trúc.
Trước hết, công tác quy hoạch nhân lực giáo dục trung và dài hạn còn những bất cập. Việc dự báo nhu cầu giáo viên theo từng cấp học, môn học, gắn với biến động dân số và lộ trình đổi mới chương trình đôi khi chưa theo kịp thực tế. Điều này dẫn đến tình trạng nơi thừa, nơi thiếu, trong khi việc điều tiết nhân lực giữa các địa phương và cơ sở giáo dục không phải lúc nào cũng thuận lợi.
Bên cạnh đó, áp lực nghề nghiệp ngày càng lớn, cùng cách ứng xử của một bộ phận xã hội đối với nhà giáo, tạo thêm sức ép tâm lý. Nhiều giáo viên cảm thấy chưa có cơ chế bảo vệ thỏa đáng trước những rủi ro nghề nghiệp, từ đó nảy sinh tâm lý e ngại, thậm chí không muốn tiếp tục gắn bó với công việc.
Chuyên gia cũng chỉ ra những hạn chế trong chính sách đào tạo, tuyển dụng và tiền lương. Ở một số địa phương, cơ chế tuyển dụng còn cứng nhắc, thủ tục hành chính phức tạp, làm giảm sức hấp dẫn của nghề giáo đối với nguồn nhân lực chất lượng cao bên ngoài hệ thống.
Bởi vậy, Thông tư 91 dù tạo hành lang pháp lý để mở rộng nguồn tuyển nhưng mới giải quyết khâu đầu vào về mặt chuyên môn và điều kiện tham gia giảng dạy. Những vấn đề cốt lõi liên quan đến thu nhập, môi trường làm việc, vị thế xã hội và quy hoạch nhân lực vẫn cần những giải pháp đồng bộ ở tầm chính sách.
Không thể đánh đổi chất lượng để giải bài toán số lượng
Một vấn đề khác được đặt ra là làm thế nào bảo đảm chất lượng đội ngũ khi mở rộng tuyển dụng sang những người không được đào tạo bài bản từ đầu theo ngành sư phạm.
Theo GS Thanh, để chính sách phát huy hiệu quả mà không làm giảm mặt bằng chất lượng giáo viên, các cơ quan quản lý và cơ sở đào tạo cần đặc biệt chú trọng hai yếu tố.
Thứ nhất, phải thực chất hóa hoạt động thực hành sư phạm. Thời gian thực tập tại trường phổ thông không thể triển khai qua loa hoặc mang tính hình thức. Người học cần có đủ thời gian tiếp xúc với môi trường lớp học, trực tiếp tham gia giảng dạy, xử lý các tình huống sư phạm và nhận được sự hướng dẫn sát sao từ giáo viên cốt cán, giàu kinh nghiệm.
Thứ hai, chương trình bồi dưỡng phải chú trọng đạo đức nghề giáo và kiến thức tâm lý học đường. Theo ông, người làm nghề dạy học không chỉ cần kiến thức chuyên môn, kỹ năng truyền đạt mà còn phải có sự kiên nhẫn, tình yêu thương học trò và ý thức trách nhiệm đối với sự phát triển của học sinh.
Một cử nhân từ ngành khác có thể nhanh chóng tiếp thu kỹ năng giảng dạy, nhưng nếu thiếu nền tảng về đạo đức nghề nghiệp, trách nhiệm bảo vệ và đồng hành cùng học sinh, họ dễ gặp khủng hoảng khi đối diện áp lực thực tế hoặc có những hành vi ứng xử không phù hợp.