Các trụ cột tăng trưởng dẫn lối Việt Nam vào Top 30

(NB&CL) Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu trở thành một trong 30 nền kinh tế lớn nhất thế giới vào năm 2030, với tầm nhìn đưa quốc gia tiến lên mức thu nhập cao vào năm 2045, việc tìm kiếm những động lực tăng trưởng mới trở thành vấn đề sống còn của nền kinh tế.

Chia sẻ với phóng viên Báo Nhà báo và Công luận, PGS.TS. Bùi Quang Tuấn, Phó Chủ tịch Hội Khoa học kinh tế Việt Nam nhấn mạnh: Để đạt được bước tiến đột phá này, Việt Nam cần dựa vào các trụ cột tăng trưởng mới, trong đó khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là những trụ cột quan trọng nhất.

Bốn trụ cột tăng trưởng mới

+ Việt Nam đang hướng tới mục tiêu lọt nhóm 30 nền kinh tế lớn nhất thế giới, với kỳ vọng tăng trưởng GDP bình quân trên 10%/năm. Theo ông, đâu là “điểm tựa chiến lược” quan trọng nhất để Việt Nam có thể tạo đà bứt phá trong giai đoạn 2026–2030?

- Theo quan điểm cá nhân của tôi, mức tăng trưởng trên 10%/năm là rất cao. Nếu nhìn vào lịch sử của nền kinh tế Việt Nam kể từ giai đoạn Đổi mới (năm 1986) tới nay, tăng trưởng GDP chưa bao giờ vượt mốc 2 con số, cao nhất cũng chỉ đạt mốc 9,5% vào năm 1995.

Tuy nhiên, việc đặt ra mục tiêu cao như vậy có ý nghĩa khác và có mục tiêu khác sâu xa hơn. Đó là phát huy tinh thần đột phá, quyết liệt, huy động tất cả các nguồn lực, tận dụng hết tiềm năng để đạt được mục tiêu cao nhất có thể.

b1.jpg
PGS.TS Bùi Quang Tuấn, Phó Chủ tịch Hội khoa học kinh tế Việt Nam. Ảnh: Việt Vũ.

Thời gian qua, chúng ta đã đi quá chậm trong khi lại đang có những cơ hội lớn của dân số vàng, cơ hội của thiên thời, địa lợi, nhân hòa để có thể bứt phá nhanh. Vì vậy, Việt Nam đặt mục tiêu cao để phấn đấu và nỗ lực hết sức để nhanh chóng trở thành nước thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và nước thu nhập cao vào năm 2045.

Đặt mục tiêu cao là cũng để Việt Nam chuyển đổi mạnh mẽ mô hình tăng trưởng, chuyển từ chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên, vốn và lao động giá rẻ, sang những động lực mới, mạnh mẽ, có thể tạo giá trị gia tăng cao.

Để tạo bước đột phá, Việt Nam cần phải chú trọng phát triển các trụ cột tăng trưởng quan trọng, khác với truyền thống. Thứ nhất, khoa học công nghệ, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo, làm nền tảng nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và giá trị gia tăng.

Thứ hai, thể chế chính sách phải trở thành lợi thế cạnh tranh, tạo môi trường minh bạch, thuận lợi cho đầu tư và kinh doanh. Thứ ba, nguồn nhân lực tinh hoa, thu hút nhân tài, đào tạo, phát triển lao động có kỹ năng cả trong nước lẫn quốc tế. Thứ tư, hội nhập kinh tế quốc tế chủ động, tham gia sâu vào các chuỗi giá trị toàn cầu, nâng cao vị thế cạnh tranh của Việt Nam trên trường quốc tế.

+ Trong các trụ cột tăng trưởng mới, theo ông đâu là quan trọng nhất?

- Tất cả các trụ cột đều góp phần tạo ra sức lan tỏa cho nền kinh tế, nhưng nếu phải chọn một, tôi sẽ chọn trụ cột đầu tiên: Khoa học công nghệ, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo.

Bởi vì, khoa học công nghệ giúp tự động hóa, tối ưu hóa quy trình sản xuất và quản lý, từ đó nâng cao năng suất lao động. Trong khi đó, chuyển đổi số giúp doanh nghiệp và cơ quan nhà nước hoạt động minh bạch, nhanh chóng, giảm chi phí và lãng phí.

Ví dụ trước đây, mỗi công dân trưởng thành có mã số căn cước công dân và mã số thuế. Tuy nhiên, nhờ vào quá trình chuyển đổi số, chúng ta đã loại bỏ mã số thuế và chỉ sử dụng mã số căn cước công dân để quản lý thống nhất. Đây là bước đi đúng hướng, nhằm liên thông và minh bạch hóa dữ liệu, giúp giảm thời gian và chi phí khi thực hiện các giao dịch hành chính, thuế, bảo hiểm.

b2.png
Khoa học công nghệ, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo sẽ là trụ cột tăng trưởng quan trọng của Việt Nam. Ảnh: NIC.

Bên cạnh đó, kinh tế số hiện đang tăng trưởng mạnh, khoảng 19–20% mỗi năm, đóng góp khoảng 14% GDP. Nếu tỷ trọng này tiếp tục tăng, nó sẽ kéo theo tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế.

Dù vậy, việc triển khai số hóa vẫn đang đối mặt với một số thách thức, bao gồm nhận thức về chuyển đổi số chưa đồng bộ và những hạn chế về cơ sở hạ tầng nền tảng như cơ sở dữ liệu lớn, cơ chế chia sẻ, nguồn kinh phí và bảo mật. Tuy nhiên, những khó khăn này hoàn toàn có thể được khắc phục theo thời gian. Thực tế cho thấy, quá trình số hóa luôn là thách thức ngay cả với các quốc gia phát triển, và Việt Nam đang đi đúng hướng để từng bước vượt qua các rào cản này.

Không đánh đổi ổn định lấy tăng trưởng

+ Việc Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số từ năm 2026 được đánh giá là rất thách thức và đi kèm với những rủi ro nhất định, trong đó có lạm phát. Thực tế, trước năm 2025, mục tiêu tăng trưởng được đặt dưới 7% và lạm phát kiểm soát dưới 4%. Đến năm 2025, mục tiêu tăng trưởng trên 8% và lạm phát dưới 4,5%. Trong bối cảnh này, nếu đặt mục tiêu tăng trưởng trên 10%, liệu mức trần lạm phát có thể được nới lên khoảng 5% để hỗ trợ tăng trưởng hay không, thưa ông?

- Tôi đồng tình rằng mức tăng trưởng trên 10% là rất cao, rất thách thức và luôn đi kèm với những rủi ro nhất định. Chúng ta sẽ phải nỗ lực hết sức, huy động tối đa các nguồn lực. Tuy nhiên, cũng phải đảm bảo nguyên tắc là phải đảm bảo ổn định vĩ mô vì đó là nền tảng. Nếu vĩ mô bất ổn, môi trường kinh doanh sẽ không thuận lợi cho nhà đầu tư và các động lực tăng trưởng sẽ bị thui chột. Do đó, Việt Nam cần kiểm soát lạm phát và duy trì các cân đối vĩ mô, bao gồm trần nợ công, nợ nước ngoài và nợ Chính phủ.

Các thành tựu trong thu hút FDI và xuất nhập khẩu đều nhờ vào việc giữ ổn định chính trị và ổn định vĩ mô, minh bạch và kiểm soát lạm phát. Quốc hội đã nới lỏng mục tiêu lạm phát năm 2025 lên 4–4,5%, và có thể chấp nhận mức tối đa 5% để hỗ trợ tăng trưởng. Tuy nhiên, 5% vẫn là mức cao so với mặt bằng quốc tế. Đấy có lẽ là ngưỡng, không nên vượt qua.

Bài toán then chốt là tìm điểm cân bằng giữa tăng trưởng và lạm phát. Nếu tăng trưởng 10% nhưng lạm phát lên 5–6%, cần xem xét điều chỉnh, chấp nhận tăng trưởng thấp hơn nhưng duy trì lạm phát trong ngưỡng chịu đựng được. Mục tiêu cuối cùng là phát triển bền vững và lâu dài, thay vì chỉ chạy nhanh trong thời gian ngắn.

+ Vậy giải pháp là gì, thưa ông?

- Để đạt được mục tiêu tăng trưởng và phát triển bền vững, việc hoàn thiện thể chế là yếu tố then chốt. Thể chế cần được coi là lợi thế so sánh của quốc gia, hướng tới sự ổn định, hấp dẫn, minh bạch và có khả năng dự đoán. Đồng thời, cần có những đột phá về thể chế để khuyến khích sáng tạo, tạo không gian cho đổi mới và thử nghiệm.

Cụ thể, cần tập trung giải quyết các điểm nghẽn trong chính sách và thể chế. Hệ thống chính sách nên được rà soát để đảm bảo tính đồng bộ, tránh mâu thuẫn và lạc hậu. Cơ chế sandbox (thí điểm) có thể được áp dụng để tạo môi trường thử nghiệm an toàn cho các sáng kiến mới. Bên cạnh đó, năng lực thực thi cần được nâng cao, bao gồm cả khả năng phối hợp giữa các cơ quan và bộ phận.

Trong quá trình thực hiện, công tác giám sát, đánh giá và điều chỉnh chính sách phải được chú trọng để đảm bảo các giải pháp đi vào thực tiễn và đạt hiệu quả cao.

+ Xin cảm ơn ông!

Xem thêm

Doanh nghiệp nhà nước cần một cuộc cải cách thể chế thực chất

Doanh nghiệp nhà nước cần một cuộc cải cách thể chế thực chất

(NB&CL) Nghị quyết số 79-NQ/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của kinh tế nhà nước trong giai đoạn phát triển mới không chỉ dừng lại ở việc khẳng định vai trò chủ đạo, mà quan trọng hơn là định nghĩa lại cách thức thực hiện vai trò này theo hướng “kiến tạo – dẫn dắt – lan tỏa”. Tuy nhiên, để chuyển hóa tư duy thành năng lực thực chất, khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN) phải vượt qua những mâu thuẫn nội tại kéo dài nhiều năm.
Quảng Trị: Dự án cảng biển 15.000 tỷ đồng “chạy nước rút” để khai thác 2 bến đầu tiên

Quảng Trị: Dự án cảng biển 15.000 tỷ đồng “chạy nước rút” để khai thác 2 bến đầu tiên

(CLO) Dự án cảng nước sâu Mỹ Thủy, “cửa ngõ” logistics chiến lược của tỉnh Quảng Trị trên tuyến Hành lang kinh tế Đông - Tây với vốn đầu tư 15.000 tỷ đồng, đang được triển khai thi công “chạy nước rút” để sớm đưa vào khai thác 2 bến cảng đầu tiên thuộc giai đoạn 1.
Muốn doanh nghiệp Nhà nước bứt phá, phải xóa “nỗi sợ trách nhiệm”

Muốn doanh nghiệp Nhà nước bứt phá, phải xóa “nỗi sợ trách nhiệm”

(NB&CL) Trao đổi với Báo Nhà báo và Công luận, Luật sư Nguyễn Thanh Hà, Chủ tịch Công ty Luật SBLAW khẳng định: Nghị quyết 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước không chỉ là một văn bản định hướng chính trị đơn thuần, mà nó chứa đựng những thay đổi mang tính "vượt rào" về tư duy thể chế.
Doanh nghiệp nhà nước phải vận hành theo logic thị trường

Doanh nghiệp nhà nước phải vận hành theo logic thị trường

(NB&CL) Nghị quyết 79-NQ/TW (Nghị quyết 79) được ban hành trong bối cảnh yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động của khu vực doanh nghiệp nhà nước ngày càng trở nên cấp thiết, khi khu vực này vẫn nắm giữ nguồn lực lớn nhưng hiệu quả chưa tương xứng.
Cỡ chữ bài viết: