Nền kinh tế số Việt Nam: Bước chuyển mình mạnh mẽ hướng tới 2030

Năm 2025, năm nền tảng của kinh tế số!

Năm 2025 chứng kiến một bước chuyển mình mạnh mẽ của nền kinh tế số Việt Nam, khi công nghệ trở thành động lực then chốt thúc đẩy sản xuất, thương mại và dịch vụ. Từ những thành phố lớn tới các vùng nông thôn, các doanh nghiệp và người dân đều đang hòa mình vào cuộc cách mạng số hóa như: thanh toán điện tử, thương mại điện tử, logistics thông minh, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, tất cả dần trở thành những công cụ quen thuộc và thiết yếu.

Chính phủ và các cơ quan quản lý đã nỗ lực xây dựng khung pháp lý và hạ tầng, từ các trung tâm dữ liệu quốc gia, mạng 5G phủ sóng rộng khắp đến các chính sách hỗ trợ khởi nghiệp công nghệ. Các nền tảng số không chỉ giúp doanh nghiệp vận hành hiệu quả hơn mà còn mở ra cơ hội tiếp cận thị trường toàn cầu, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy tăng trưởng bền vững.

Bên cạnh đó, sự phát triển của các ứng dụng trí tuệ nhân tạo, quản trị dữ liệu thông minh, chuỗi cung ứng số hóa… đang tạo ra những mô hình kinh doanh mới, đem lại giá trị gia tăng cao và giúp các doanh nghiệp Việt Nam trở nên linh hoạt hơn trong bối cảnh biến động kinh tế toàn cầu.

Năm 2025 không chỉ là năm của những con số ấn tượng mà còn là năm bản lề của nền kinh tế số Việt Nam, khẳng định vị thế, sẵn sàng bứt phá mạnh mẽ hướng tới 2030.

Trao đổi với phóng viên Báo Nhà báo và Công luận, ông Lê Bảo Nguyên, Phó Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Công nghệ số SSI khẳng định: Nền kinh tế số của Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển thực chất hơn.

Theo ông, nếu vài năm trước, nền kinh tế số của Việt Nam mới ở mức “thử nghiệm rời rạc”, thì bây giờ đã bắt đầu “quy mô hóa có chọn lọc”, nghĩa là nhiều lĩnh vực đang áp dụng công nghệ số một cách bài bản, gắn với hiệu quả kinh doanh cụ thể.

a2 tet
Ông Lê Bảo Nguyên, Phó Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Công nghệ số SSI. Ảnh: CF.

Ví dụ, một số ngân hàng tại Việt Nam đã đẩy mạnh mô hình ngân hàng số và thanh toán không tiền mặt. Nổi bật trong đó là TPBank cho phép khách hàng mở tài khoản hoàn toàn trực tuyến và thực hiện giao dịch 24/7 mà không cần tới chi nhánh.

Trong khi đó, các doanh nghiệp công nghệ như FPT áp dụng AI, tự động hóa, ERP, CRM để tối ưu quy trình, giảm chi phí vận hành, nâng cao trải nghiệm khách hàng. Một số nhà máy sản xuất điện tử, linh kiện còn triển khai hệ thống IoT, robot tự động, quản lý dữ liệu sản xuất trực tuyến, giúp nâng cao năng suất và kiểm soát chất lượng.

“Việt Nam có nhiều thuận lợi, dân số trẻ, tỉ lệ người dùng Internet và điện thoại thông minh cao, thanh toán số và thương mại điện tử tăng trưởng rất nhanh. Điều đó cho thấy người dân đã quen và sẵn sàng với các mô hình dịch vụ số”, ông Nguyên nói.

Dù vậy, ông Lê Bảo Nguyên cũng thẳng thắn thừa nhận, nền kinh tế số của Việt Nam đang đối mặt với một số điểm nghẽn. Thể chế và khung pháp lý vẫn chưa bắt kịp tốc độ phát triển của công nghệ mới như AI, dữ liệu lớn hay tài sản số. Cơ sở hạ tầng dữ liệu và điện toán đám mây còn yếu, chưa đủ sức làm “xương sống” cho một nền kinh tế số quy mô lớn.

Ngoài ra, nguồn nhân lực công nghệ cao vẫn thiếu cả về số lượng lẫn chất lượng, đặc biệt là trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Câu chuyện an ninh mạng và chênh lệch số giữa các vùng cũng là vấn đề cần quan tâm.

Đến năm 2030, kinh tế số chiếm 30% GDP: Tham vọng lớn nhưng khả thi

Tại Quyết định 411/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia phát triển kinh tế số và xã hội số đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, Việt Nam đặt mục tiêu tỷ trọng kinh tế số đạt 20% GDP vào năm 2025, hướng đến mục tiêu đạt 30% đến năm 2030.

Tại Nghị quyết 57-NQ/TW, Bộ Chính trị cũng đặt mục tiêu đến năm 2030, kinh tế số của Việt Nam sẽ đạt khoảng 30% GDP, đồng thời Việt Nam sẽ nằm trong nhóm 50 quốc gia gia hàng đầu thế giới và nhóm 3 ASEAN về Chính phủ điện tử và kinh tế số.

Báo cáo của Bộ Khoa học và Công nghệ cho thấy, trong nửa đầu năm 2025, kinh tế số tiếp tục đóng vai trò là một trong những động lực tăng trưởng quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, góp phần thúc đẩy năng suất lao động, đổi mới mô hình tăng trưởng và nâng cao khả năng thích ứng của doanh nghiệp trong bối cảnh nhiều biến động về kinh tế - công nghệ toàn cầu.

Theo số liệu sơ bộ, tính đến hết quý I, tỷ trọng kinh tế số trên GDP đạt khoảng 18,72%, tỷ lệ tăng trưởng khoảng 10% so với cùng kỳ 2024. Trong đó cơ cấu kinh tế số bao gồm: kinh tế số lõi chiếm 8,63%; kinh tế số lan tỏa chiếm 10,09%.

Anh 1 tét
Kinh tế số đang trở thành một trong những động lực tăng trưởng mới của kinh tế Việt Nam. Ảnh: HVCN.

Riêng trong lĩnh vực công nghiệp công nghệ số, doanh thu 6 tháng đầu năm đạt 2,29 triệu tỷ đồng, tăng 21%, lợi nhuận 158.326 tỷ đồng, kim ngạch xuất khẩu phần cứng, điện tử 81 tỷ USD. Tính đến hết tháng 4, có 75.169 doanh nghiệp công nghệ số hoạt động, phản ánh sự phát triển mạnh mẽ của các ngành công nghệ số.

Nhận định về mục tiêu đến năm 2030, kinh tế số chiếm tỷ trọng 30% GDP, ông Lê Bảo Nguyên cho rằng: Mục tiêu này rất tham vọng, nhưng hoàn toàn khả thi nếu Việt Nam chuyển được trọng tâm từ “số hóa thủ tục” sang “số hóa mô hình kinh doanh”, tức là không chỉ dùng công nghệ để rút ngắn quy trình, mà còn phải tạo ra giá trị mới, sản phẩm mới, dịch vụ mới nhờ công nghệ.

Để làm được điều đó, theo ông điều kiện đầu tiên là thể chế phải “mở đường” cho đổi mới, nghĩa là chấp nhận thử nghiệm, chấp nhận rủi ro có kiểm soát. Đơn cử như mô hình sandbox trong các lĩnh vực như tài sản số, fintech, AI hay dữ liệu mở cần đi vào hoạt động thật, không chỉ dừng ở văn bản.

Bên cạnh đó, hạ tầng số quốc gia, đặc biệt là trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây và 5G, phải đủ mạnh để phục vụ hàng trăm triệu kết nối. Đồng thời, dữ liệu cần được coi là tài nguyên chung, được chia sẻ an toàn giữa khu vực công và tư.

“Cuối cùng, nguồn nhân lực phải được đào tạo lại theo hướng linh hoạt, cập nhật nhanh kỹ năng mới chứ không chỉ dựa vào bằng cấp. Nếu bốn điều kiện này vận hành đồng bộ, tôi tin mục tiêu 30% GDP từ kinh tế số là hoàn toàn trong tầm tay”, ông nói.

Dù vậy, ông Nguyên cho rằng, để kinh tế số thực sự trở thành động lực tăng trưởng mới, Việt Nam cần ưu tiên ở cả 3 lĩnh vực quan trọng, đó là: thể chế, công nghệ hay nguồn nhân lực. Tuy nhiên, nếu buộc phải chọn điểm khởi đầu, nên để thể chế phải đi trước nửa bước. Bởi nếu khung pháp lý còn lấn cấn, công nghệ có hay đến mấy cũng khó được ứng dụng rộng rãi.

Xem thêm

Chỉ thị số 10-CT/TW: Để lý tưởng, đạo đức trở thành hành động

Chỉ thị số 10-CT/TW: Để lý tưởng, đạo đức trở thành hành động

(NB&CL) Trong thời đại người trẻ có thể tiếp cận tri thức chỉ bằng vài thao tác trên điện thoại, nhưng cũng dễ bị cuốn vào những luồng thông tin sai lệch và cách ứng xử lệch chuẩn, giáo dục lý tưởng, đạo đức, lối sống đòi hỏi những cách làm thiết thực hơn. Làm sao để những giá trị được dạy trong nhà trường trở thành bản lĩnh và trách nhiệm trong cuộc sống? Chỉ thị số 10-CT/TW ngày 20/7/2026 của Ban Bí thư về tăng cường giáo dục lý luận chính trị, lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống, ý thức công dân trong hệ thống giáo dục quốc dân đặt ra yêu cầu cấp thiết ấy.

Kỳ 4: Trách nhiệm của "người mở cửa"

Kỳ 4: Trách nhiệm của "người mở cửa"

(CLO) Đòi hỏi người tài phải cam kết đầu ra, phải có sản phẩm đột phá nhưng bộ máy giao việc lại đứng ngoài vòng phán xét, đó là căn bệnh vô cảm của cơ chế đánh giá một chiều. Khi một công trình nghìn tỷ đắp chiếu hay một nhà khoa học dứt áo ra đi, trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy được định lượng bằng thước đo nào? Các quyết sách lịch sử của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV đã tuyên chiến với sự né tránh: Trách nhiệm phải được truy xuất sòng phẳng ở cả hai đầu. Trọng dụng nhân tài không còn là việc chiêu mộ thuần túy mà chính là bản lĩnh chính trị và danh dự của người cầm quyền.

Kỳ 3: Đất dụng võ mới là đất lành

Kỳ 3: Đất dụng võ mới là đất lành

(CLO) Đãi ngộ tài chính vượt khung có thể tạo ra sức hút ban đầu nhưng không bao giờ giữ chân được người tài nếu họ thiếu một mảnh đất thực chiến để vẫy vùng sáng tạo. Hàng chục ngàn công chức, trí thức rời khu vực công cùng những đề án nghìn tỷ đắp chiếu đã để lại bài học đau xót: Với người thực tài, “đất lành” không nằm ở lời hứa đãi ngộ hay chiếc ghế an phận mà nằm ở bài toán xứng tầm, hạ tầng đồng bộ và cơ chế bảo vệ rủi ro. Đột phá của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV chính là việc xác lập “văn hóa trọng dụng” thành một trụ cột độc lập; mở đường cho thể chế dung dưỡng đổi mới sáng tạo, biến môi trường làm việc thực chất thành bệ phóng để nhân tài ở lại cống hiến dài lâu.

Xây dựng văn hóa trong Đảng - Để chuẩn mực trở thành sức mạnh từ bên trong

Xây dựng văn hóa trong Đảng - Để chuẩn mực trở thành sức mạnh từ bên trong

(CLO) Văn hóa trong Đảng không chỉ thể hiện qua đạo đức, tác phong của mỗi cán bộ, đảng viên, mà còn được nhận ra từ cách tổ chức lãnh đạo, cách người có chức vụ sử dụng quyền hạn và cách công việc được giải quyết vì lợi ích chung. Quy định số 19-QĐ/TW đặt yêu cầu xây dựng văn hóa trong Đảng gắn với lý tưởng phát triển đất nước, chuẩn mực đạo đức cách mạng, văn hóa lãnh đạo, văn hóa công vụ và tinh thần phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân. Điều quan trọng là những yêu cầu ấy phải bước ra khỏi văn bản, trở thành cách nghĩ, cách làm và những chuyển biến người dân có thể cảm nhận trong cuộc sống.

Kỳ 2: Trọng dụng nhân tài: “Tùy tài mà dùng người”

Kỳ 2: Trọng dụng nhân tài: “Tùy tài mà dùng người”

(CLO) Đem chuyên gia đầu ngành đặt vào chiếc ghế hành chính sự vụ, bắt nhà khoa học phải đối thoại bằng ngôn ngữ của tờ trình và quy trình duyệt chi, đó là bi kịch lớn nhất của sự lãng phí chất xám. Khi nấc thang danh vọng trong hệ thống công suốt nhiều năm chỉ có một lối rẽ duy nhất là đường quan lộ, tài năng tất yếu bị mài mòn giữa những cuộc họp hành vụn vặt. Nghị quyết số 30-NQ/TW và Kết luận số 105-KL/TW đã dũng cảm khai thông nhận thức luận: Trọng dụng người tài không đồng nhất với bổ nhiệm chức vụ quản lý; thiết lập “hai làn đường” phát triển song hành và cơ chế khoán việc trao quyền chính là lời giải cho sự thăng hoa của trí tuệ.

Kỳ 1: Gần 80 năm một trăn trở: “Nghe không đến, thấy không khắp”

Kỳ 1: Gần 80 năm một trăn trở: “Nghe không đến, thấy không khắp”

(CLO) Rầm rộ trải thảm đỏ đón người tài nhưng lại lúng túng khi xếp chỗ làm việc; chi đậm ngân sách cho những gói đãi ngộ ban đầu nhưng buông lỏng hoàn toàn khâu tạo dựng môi trường để họ dấn thân dài hạn. Nghịch lý “trọng mời, nhẹ dùng” suốt nhiều năm qua đã biến không ít đề án nhân tài thành những bản báo cáo số lượng hình thức, tô hồng thành tích nhiệm kỳ. 

Đổi mới cách bảo vệ công trình quan trọng về an ninh quốc gia

Hôm nay, Quốc hội thảo luận tại tổ về Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi)

(CLO) Hôm nay (25/10), Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI tiếp tục bước sang tuần làm việc thứ 2 với nhiều dự án luật quan trọng. Trong đó, Quốc hội thảo luận ở tổ về Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi), Luật An ninh dữ liệu, Luật Bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia. 

Trọng dụng hiệu quả để chuyển hóa nhân tài thành nguồn lực phát triển

Trọng dụng hiệu quả để chuyển hóa nhân tài thành nguồn lực phát triển

(NB&CL) Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm từng nhấn mạnh, nhân tài là nguồn lực chiến lược đặc biệt của quốc gia. Phát triển, thu hút và trọng dụng nhân tài phải đặt trong tổng thể chiến lược phát triển đất nước, lấy lợi ích quốc gia, dân tộc và yêu cầu thực hiện các nhiệm vụ chiến lược làm định hướng cao nhất. Từ tinh thần ấy, Kết luận số 105-KL/TW ngày 15/10/2026 của Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về thu hút và trọng dụng nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn, phục vụ đất nước phát triển nhanh, bền vững được ban hành, đánh dấu bước phát triển quan trọng trong tư duy của Đảng về nguồn lực con người.

Quy định số 224-QĐ/TW: Làm kinh tế bằng năng lực, không bằng quyền lực

Quy định số 224-QĐ/TW: Làm kinh tế bằng năng lực, không bằng quyền lực

(NB&CL) Một người đảng viên có thể trở thành doanh nhân giỏi, tạo ra sản phẩm có ích, giải quyết việc làm cho người lao động và đóng góp cho ngân sách. Nhưng nếu lợi thế kinh doanh đến từ chức vụ đang nắm giữ, thông tin có được nhờ công vụ hay khả năng chi phối những quyết định quản lý, câu chuyện đã vượt khỏi phạm vi làm giàu thông thường. Khi ấy, điều cần được xem xét không chỉ là khoản lợi nhuận thu về, mà còn là nguồn gốc của lợi thế tạo nên khoản lợi nhuận đó.

Bạo lực học đường: Ai đang làm mỏng đi quyền uy của thầy cô?

Bạo lực học đường: Ai đang làm mỏng đi quyền uy của thầy cô?

(CLO) Vụ nam sinh hành hung cô giáo ngay trên bục giảng tại Trường THPT Mạc Đĩnh Chi, Hà Nội, được phản ánh trong hai ngày qua, một lần nữa khiến dư luận bàng hoàng, đồng thời gợi lên câu hỏi không thể né tránh: Vì sao những hành vi xúc phạm, thậm chí bạo lực với thầy cô vẫn xảy ra trong môi trường giáo dục? Đổ hết lỗi cho học sinh là chưa đủ; nhưng nếu chỉ yêu cầu giáo viên phải thấu hiểu, bao dung và đổi mới, chúng ta cũng cần tự hỏi đã làm gì để bảo vệ người đang đứng trên bục giảng.

Phụ nữ Việt Nam: Từ người "giữ lửa" trong gia đình đến người "kiến tạo" trong xã hội

Phụ nữ Việt Nam: Từ người "giữ lửa" trong gia đình đến người "kiến tạo" trong xã hội

(CLO) Bước vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, phụ nữ Việt Nam không còn chỉ đóng vai trò là hậu phương vững chắc. Vượt qua những định kiến giới cũ kỹ, phụ nữ Việt Nam ngày nay đang tạo nên những bước chuyển mình ngoạn mục từ người "giữ lửa" trong gia đình đến người "kiến tạo" xã hội. Bằng trí tuệ, sự nhạy bén và khát vọng cống hiến mạnh mẽ, những người phụ nữ thời đại mới đang tự tin bước ra thế giới, khẳng định vị thế chủ thể trên mọi lĩnh vực chủ chốt từ chính trị, kinh tế số cho đến ngoại ngữ và khoa học công nghệ.

Phụ nữ Việt Nam phát huy bản lĩnh trong kỷ nguyên mới

Phụ nữ Việt Nam phát huy bản lĩnh trong kỷ nguyên mới

(CLO) Từ những nữ doanh nhân chèo lái tập đoàn nghìn tỷ trong nền kinh tế số, các nhà khoa học nữ sở hữu công trình tầm cỡ quốc tế, cho đến những nữ chiến sĩ mũ nồi xanh kiên cường tại các phái bộ Liên Hợp Quốc... phụ nữ Việt Nam hôm nay đang viết nên một định nghĩa mới về bản lĩnh. Không còn bị trói buộc bởi những định kiến cũ kỹ, họ chủ động làm chủ công nghệ, đón đầu xu thế và tỏa sáng rực rỡ trong kỷ nguyên mới, trở thành động lực thúc đẩy hành trình vươn mình mạnh mẽ của toàn dân tộc.

Kỳ vọng xây dựng một hệ sinh thái sáng tạo đồng bộ

Kỳ vọng xây dựng một hệ sinh thái sáng tạo đồng bộ

(NB&CL) Bộ VHTTDL vừa ra mắt “Mạng lưới phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam” và công bố 17 sáng kiến phát triển ngành năm 2026. Mạng lưới được kỳ vọng trở thành đầu mối kết nối các nguồn lực, chia sẻ cơ hội hợp tác và thúc đẩy những sáng kiến mới, góp phần đưa văn hóa trở thành nguồn lực phát triển kinh tế. Hiệu quả của mô hình sẽ phụ thuộc vào khả năng chuyển hóa các định hướng thành chương trình hợp tác cụ thể, đưa ý tưởng thành sản phẩm có giá trị và tạo chỗ đứng trên thị trường trong nước, quốc tế.

Việc đã rõ phải làm ngay

Việc đã rõ phải làm ngay

(NB&CL) Việc đã xác định rõ thì phải bắt tay thực hiện, vướng mắc phải được tháo gỡ, trách nhiệm phải được xác định đến cùng. Từ Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV, 3 chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với quá trình tổ chức thực hiện các quyết sách: không để công việc chậm trễ vì né tránh, đùn đẩy, không để những vấn đề đã có hướng giải quyết tiếp tục ách tắc, mà phải tạo chuyển biến thực chất trong từng nhiệm vụ, từng lĩnh vực, để người dân và doanh nghiệp sớm nhận thấy kết quả.

Sau cuộc trở về là một lời hứa

Sau cuộc trở về là một lời hứa

(CLO) 731 liệt sĩ được đưa về nơi an nghỉ sau gần 60 năm. Nhưng sự tri ân không thể khép lại cùng một lễ truy điệu. Điều phải ở lại là lời hứa của những người đang sống: không quên quá khứ và xây dựng một đất nước xứng đáng với sự hy sinh ấy.

Hà Nội đang học cách đi nhanh bằng một cách nghĩ khác

Hà Nội đang học cách đi nhanh bằng một cách nghĩ khác

(NB&CL) Có một Hà Nội rất dễ nhận ra qua những câu chuyện hàng ngày, như tắc đường, mưa xuống là lo ngập, những dự án kéo dài, trường học quá tải... Nhưng nếu chỉ nhìn Thủ đô từ những điều ấy, sẽ khó thấy một chuyển động đang diễn ra khá rõ trong thời gian gần đây: Hà Nội đang thay đổi cách nghĩ về con đường phát triển của chính mình.

Đằng sau sự bùng nổ của các hội nhóm trên mạng xã hội: Ranh giới pháp lý cần được phân định!

Đằng sau sự bùng nổ của các hội nhóm trên mạng xã hội: Ranh giới pháp lý cần được phân định!

(NB&CL) Sự xuất hiện của những hội nhóm mang tên như “Hội những người từng đi tù”, “Hội những người vỡ nợ muốn làm liều” hay gần đây là “Con ghét bố mẹ” đang thu hút sự quan tâm lớn trên mạng xã hội. Đặc biệt, hội nhóm “Con ghét bố mẹ” đã thu hút sự quan tâm khi có hàng trăm nghìn thành viên. Nhiều bài viết chia sẻ những mâu thuẫn, tổn thương trong quan hệ giữa con cái và cha mẹ.

Quy định 220-QĐ/TW: Khi người dám làm được trao cơ hội để cống hiến

Quy định 220-QĐ/TW: Khi người dám làm được trao cơ hội để cống hiến

(NB&CL) Khi nhiều vấn đề mới không thể giải quyết bằng những cách làm cũ, người cán bộ không chỉ cần năng lực và ý tưởng, mà còn cần một môi trường đủ tin cậy để dám quyết định, dám chịu trách nhiệm và được đánh giá công bằng. Quy định 220-QĐ/TW vì thế không chỉ đặt ra cơ chế bảo vệ người dám làm, mà còn gợi mở một yêu cầu lớn hơn, phải biết phát hiện, giao việc, trao quyền và sử dụng đúng những người có năng lực để họ thực sự tạo ra giá trị.

17 Chủ tịch xã ở Quảng Ngãi và câu chuyện 'có mặt' với trách nhiệm

17 Chủ tịch xã ở Quảng Ngãi và câu chuyện 'có mặt' với trách nhiệm

(CLO) Một cuộc họp có thể chỉ kéo dài vài giờ. Nhưng cách một cán bộ tham dự, lắng nghe và xử lý công việc sau đó lại có thể nói nhiều điều về trách nhiệm công vụ. Câu chuyện 17 Chủ tịch UBND xã ở Quảng Ngãi bị phê bình vì không nghiêm túc trong việc tham dự một hội nghị vì thế đáng để nhìn rộng hơn: Có mặt trong một cuộc họp liệu đã đồng nghĩa với có mặt trong công việc?

Cỡ chữ bài viết: