Năm 2025, năm nền tảng của kinh tế số!
Năm 2025 chứng kiến một bước chuyển mình mạnh mẽ của nền kinh tế số Việt Nam, khi công nghệ trở thành động lực then chốt thúc đẩy sản xuất, thương mại và dịch vụ. Từ những thành phố lớn tới các vùng nông thôn, các doanh nghiệp và người dân đều đang hòa mình vào cuộc cách mạng số hóa như: thanh toán điện tử, thương mại điện tử, logistics thông minh, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, tất cả dần trở thành những công cụ quen thuộc và thiết yếu.
Chính phủ và các cơ quan quản lý đã nỗ lực xây dựng khung pháp lý và hạ tầng, từ các trung tâm dữ liệu quốc gia, mạng 5G phủ sóng rộng khắp đến các chính sách hỗ trợ khởi nghiệp công nghệ. Các nền tảng số không chỉ giúp doanh nghiệp vận hành hiệu quả hơn mà còn mở ra cơ hội tiếp cận thị trường toàn cầu, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy tăng trưởng bền vững.
Bên cạnh đó, sự phát triển của các ứng dụng trí tuệ nhân tạo, quản trị dữ liệu thông minh, chuỗi cung ứng số hóa… đang tạo ra những mô hình kinh doanh mới, đem lại giá trị gia tăng cao và giúp các doanh nghiệp Việt Nam trở nên linh hoạt hơn trong bối cảnh biến động kinh tế toàn cầu.
Năm 2025 không chỉ là năm của những con số ấn tượng mà còn là năm bản lề của nền kinh tế số Việt Nam, khẳng định vị thế, sẵn sàng bứt phá mạnh mẽ hướng tới 2030.
Trao đổi với phóng viên Báo Nhà báo và Công luận, ông Lê Bảo Nguyên, Phó Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Công nghệ số SSI khẳng định: Nền kinh tế số của Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển thực chất hơn.
Theo ông, nếu vài năm trước, nền kinh tế số của Việt Nam mới ở mức “thử nghiệm rời rạc”, thì bây giờ đã bắt đầu “quy mô hóa có chọn lọc”, nghĩa là nhiều lĩnh vực đang áp dụng công nghệ số một cách bài bản, gắn với hiệu quả kinh doanh cụ thể.
Ví dụ, một số ngân hàng tại Việt Nam đã đẩy mạnh mô hình ngân hàng số và thanh toán không tiền mặt. Nổi bật trong đó là TPBank cho phép khách hàng mở tài khoản hoàn toàn trực tuyến và thực hiện giao dịch 24/7 mà không cần tới chi nhánh.
Trong khi đó, các doanh nghiệp công nghệ như FPT áp dụng AI, tự động hóa, ERP, CRM để tối ưu quy trình, giảm chi phí vận hành, nâng cao trải nghiệm khách hàng. Một số nhà máy sản xuất điện tử, linh kiện còn triển khai hệ thống IoT, robot tự động, quản lý dữ liệu sản xuất trực tuyến, giúp nâng cao năng suất và kiểm soát chất lượng.
“Việt Nam có nhiều thuận lợi, dân số trẻ, tỉ lệ người dùng Internet và điện thoại thông minh cao, thanh toán số và thương mại điện tử tăng trưởng rất nhanh. Điều đó cho thấy người dân đã quen và sẵn sàng với các mô hình dịch vụ số”, ông Nguyên nói.
Dù vậy, ông Lê Bảo Nguyên cũng thẳng thắn thừa nhận, nền kinh tế số của Việt Nam đang đối mặt với một số điểm nghẽn. Thể chế và khung pháp lý vẫn chưa bắt kịp tốc độ phát triển của công nghệ mới như AI, dữ liệu lớn hay tài sản số. Cơ sở hạ tầng dữ liệu và điện toán đám mây còn yếu, chưa đủ sức làm “xương sống” cho một nền kinh tế số quy mô lớn.
Ngoài ra, nguồn nhân lực công nghệ cao vẫn thiếu cả về số lượng lẫn chất lượng, đặc biệt là trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Câu chuyện an ninh mạng và chênh lệch số giữa các vùng cũng là vấn đề cần quan tâm.
Đến năm 2030, kinh tế số chiếm 30% GDP: Tham vọng lớn nhưng khả thi
Tại Quyết định 411/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia phát triển kinh tế số và xã hội số đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, Việt Nam đặt mục tiêu tỷ trọng kinh tế số đạt 20% GDP vào năm 2025, hướng đến mục tiêu đạt 30% đến năm 2030.
Tại Nghị quyết 57-NQ/TW, Bộ Chính trị cũng đặt mục tiêu đến năm 2030, kinh tế số của Việt Nam sẽ đạt khoảng 30% GDP, đồng thời Việt Nam sẽ nằm trong nhóm 50 quốc gia gia hàng đầu thế giới và nhóm 3 ASEAN về Chính phủ điện tử và kinh tế số.
Báo cáo của Bộ Khoa học và Công nghệ cho thấy, trong nửa đầu năm 2025, kinh tế số tiếp tục đóng vai trò là một trong những động lực tăng trưởng quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, góp phần thúc đẩy năng suất lao động, đổi mới mô hình tăng trưởng và nâng cao khả năng thích ứng của doanh nghiệp trong bối cảnh nhiều biến động về kinh tế - công nghệ toàn cầu.
Theo số liệu sơ bộ, tính đến hết quý I, tỷ trọng kinh tế số trên GDP đạt khoảng 18,72%, tỷ lệ tăng trưởng khoảng 10% so với cùng kỳ 2024. Trong đó cơ cấu kinh tế số bao gồm: kinh tế số lõi chiếm 8,63%; kinh tế số lan tỏa chiếm 10,09%.
Riêng trong lĩnh vực công nghiệp công nghệ số, doanh thu 6 tháng đầu năm đạt 2,29 triệu tỷ đồng, tăng 21%, lợi nhuận 158.326 tỷ đồng, kim ngạch xuất khẩu phần cứng, điện tử 81 tỷ USD. Tính đến hết tháng 4, có 75.169 doanh nghiệp công nghệ số hoạt động, phản ánh sự phát triển mạnh mẽ của các ngành công nghệ số.
Nhận định về mục tiêu đến năm 2030, kinh tế số chiếm tỷ trọng 30% GDP, ông Lê Bảo Nguyên cho rằng: Mục tiêu này rất tham vọng, nhưng hoàn toàn khả thi nếu Việt Nam chuyển được trọng tâm từ “số hóa thủ tục” sang “số hóa mô hình kinh doanh”, tức là không chỉ dùng công nghệ để rút ngắn quy trình, mà còn phải tạo ra giá trị mới, sản phẩm mới, dịch vụ mới nhờ công nghệ.
Để làm được điều đó, theo ông điều kiện đầu tiên là thể chế phải “mở đường” cho đổi mới, nghĩa là chấp nhận thử nghiệm, chấp nhận rủi ro có kiểm soát. Đơn cử như mô hình sandbox trong các lĩnh vực như tài sản số, fintech, AI hay dữ liệu mở cần đi vào hoạt động thật, không chỉ dừng ở văn bản.
Bên cạnh đó, hạ tầng số quốc gia, đặc biệt là trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây và 5G, phải đủ mạnh để phục vụ hàng trăm triệu kết nối. Đồng thời, dữ liệu cần được coi là tài nguyên chung, được chia sẻ an toàn giữa khu vực công và tư.
“Cuối cùng, nguồn nhân lực phải được đào tạo lại theo hướng linh hoạt, cập nhật nhanh kỹ năng mới chứ không chỉ dựa vào bằng cấp. Nếu bốn điều kiện này vận hành đồng bộ, tôi tin mục tiêu 30% GDP từ kinh tế số là hoàn toàn trong tầm tay”, ông nói.
Dù vậy, ông Nguyên cho rằng, để kinh tế số thực sự trở thành động lực tăng trưởng mới, Việt Nam cần ưu tiên ở cả 3 lĩnh vực quan trọng, đó là: thể chế, công nghệ hay nguồn nhân lực. Tuy nhiên, nếu buộc phải chọn điểm khởi đầu, nên để thể chế phải đi trước nửa bước. Bởi nếu khung pháp lý còn lấn cấn, công nghệ có hay đến mấy cũng khó được ứng dụng rộng rãi.