Còn một tài hoa của nghệ thuật Tuồng Việt Nam

Nằm trên một căn gác nhỏ ở số 50 phố Đào Duy Từ, Hà Nội, hằng ngày, ông Nguyễn Kim Kê vẫn vẽ những gương mặt nhân vật trên mặt nạ giấy bồi trong các vở tuồng cổ mà cả đời ông gắn bó.

Nghệ sĩ tuồng Nguyễn Kim Kê năm nay 76 tuổi. Ông sinh ra trong một gia đình ba đời làm nghề ca kịch, tham gia diễn Tuồng từ năm 12 tuổi, đến giờ, thỉnh thoảng ông vẫn ra trình diễn Tuồng cho nhân dân xem ở sân khấu góc phố Mã Mây - Lương Ngọc Quyến.

Ít người biết rằng địa chỉ 50 phố Đào Duy Từ, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, nay là Trung tâm giao lưu văn hóa phố cổ Hà Nội khi xưa là Rạp hát Lạc Việt. Sinh ra ở rạp hát, lớn lên trong môi trường ca kịch, có thể coi nghệ sĩ Nguyễn Kim Kê là thế hệ thứ 3 của nghề hát Tuồng ở Hà Nội.

Nghệ sĩ tuồng Kim Kê vẽ mặt nạ hằng ngày. Ảnh: Lê Bích

Nghệ sĩ tuồng Kim Kê vẽ mặt nạ hằng ngày. Ảnh: Lê Bích

“Những ngày trước, Tuồng là một loại nghệ thuật chỉ được biểu diễn cho vua, quan mỗi khi có ngày lễ hay ngày trọng đại. Nhưng sau này, nó trở thành một bộ môn nghệ thuật quần chúng, giải trí mua vui cho bà con. Vào thời của tôi, nhiều xã cũng có những gánh hát riêng và được đón nhận hết sức nhiệt liệt”, ông Kê cho biết.

Trưởng thành, chàng thanh niên Nguyễn Kim Kê lên đường ra mặt trận, trở thành trinh sát đặc công tại chiến trường Tây Ninh. Năm 1968, ông bị thương nặng rồi được chuyển ra miền Bắc chữa trị. Với 50% sức khỏe bị mất, ông Kê ra quân với chứng nhận là thương binh hạng 3/4.

Về lại Hà Nội, ban đầu ông làm việc ở một đơn vị cơ khí một thời gian. Vốn có tài năng từ nghề ca kịch, ông tham gia và hoạt động văn hóa quần chúng cơ sở. Rồi ông quay lại với nghiệp ca kịch khi Giám đốc Nhà hát Tuồng ngày đó làm công văn “xin” đích danh.

Kể lại những ngày xưa cũ, ông Kê vui vẻ: “Ngày đó không có nhiều nghệ thuật giải trí như bây giờ nên Tuồng được bà con yêu thích lắm. Mỗi khi có suất chiếu, rạp hát lại đông nghịt người xem. Họ đến xem vì thích, vì đam mê thực sự. Diễn viên Tuồng khi đó được mến mộ chẳng khác gì những ca sĩ, nghệ sĩ nổi tiếng thời nay. Nhiều khi, tôi đi chợ còn được bà con mến mộ tặng cho con cá, miếng thịt. Có những người họ còn mua vé cả tháng, không cần biết đoàn diễn vở gì, ghế đó cố định là của họ. Đó là những tình cảm thực sự của người dân với Tuồng và những người nghệ sĩ”.

Những năm đó cũng là thời kỳ hoàng kim trong sự nghiệp của ông Kê. Thậm chí, ông và đoàn diễn còn được mời đi diễn ở các nước trong khối XHCN như Liên Xô, Đức, Hungari. Tại các nước bạn, do bất đồng về ngôn ngữ nên ông Kê phải cải biên vở diễn, giảm bớt lời nói và tăng hành động giúp người xem có thể hiểu được nội dung vở diễn hơn.

Trong các bộ môn ca kịch thì Tuồng là bộ môn khó nhất, người diễn Tuồng có thể đi đóng cải lương, chèo nhưng ngược lại thì không được. Hay đặc biệt hơn, đối với Tuồng, người ta chỉ có thể nói xem Tuồng chứ không thể là nghe Tuồng bởi sự phức tạp trong cảm nhận của bộ môn này rất khắt khe.

Những gương mặt tuồng được vẽ lại bằng sơn trên giấy bồi. Ảnh: Lê Bích.

Những gương mặt tuồng được vẽ lại bằng sơn trên giấy bồi. Ảnh: Lê Bích.

Ngay trong vũ đạo tuồng là lồng ghép cả võ thuật dân tộc, nghệ sĩ phải biết sử dụng cả binh khí. Hay như yếu tố kịch câm khi đưa vào vở tuồng bắt buộc diễn viên phải kết hợp các động tác diễn tả tốt để khán giả nhìn là hiểu.

Tính biểu đạt trong Tuồng cũng đòi hỏi phức tạp hơn nhiều bộ môn khác, “ngay trong động tác bắt ngựa, dù chỉ là một kép phụ nhưng người diễn giỏi là người biết thể hiện đúng hoàn cảnh vở diễn thế nào. Ngựa có nhiều loại ngựa, loại ngựa hung dữ như Ô Truy của Hạng Võ thì phải diễn tả kiểu khác, ngựa của Khổng Minh lại diễn tả một kiểu khác. Cũng chỉ bằng cây gậy ấy, người diễn phải làm thế nào để người xem thấy được cái thần, cái tính cách của con ngựa”, ông Kê nói.

Đến năm 1990, nghệ sĩ Kim Kê xin nghỉ công tác ở Nhà hát Tuồng Trung ương. Lúc này, cùng với sự bùng nổ của sân khấu trong đời sống, ông Kê lại được tín nhiệm mời đi dựng vở, biên đạo, dạy diễn xuất cho các diễn viên trẻ. “Hồi ấy, tôi đi làm với Doãn Hoàng Giang quanh năm, khắp các tỉnh đồng bằng sông Hồng, khắp vùng Đông Bắc” - nghệ sĩ Kim Kê kể.

Là thầy dạy nghề của bao lứa nghệ sĩ, đến giờ, khi sức khỏe không còn, ông lại dồn tình yêu vào một công việc thú vị khác: Vẽ mặt nạ tuồng.

Vẽ mặt là một công đoạn quan trọng khi diễn Tuồng. Nhờ gương mặt được vẽ cầu kỳ của người nghệ sĩ mà người ta có thể nhận ra chính xác ý nghĩa của nhân vật trên sân khấu Tuồng.

Mặt nạ giấy sau khi được mua về từ Hàng Mã sẽ được nghệ sỹ Kim Kê sử dụng sơn ta tô vẽ lại. Nhân vật nịnh thần thì ngoài gam trắng còn phải được “đặc tả” bởi gương mặt gầy gò, bần tiện, tính cách “gió chiều nào theo chiều ấy”; Nhân vật phản thần, đặc trưng là đường nét rằn ri dữ tợn, giỏi nhưng luôn có mưu đồ; Mặt của gian thần chủ yếu màu trắng, là dạng nhân vật chuyên cướp ngôi, tìm cách hại vua; Mặt trung thần sử dụng gam màu đỏ chủ đạo... Mỗi gương mặt có một ước lệ riêng, nhưng chỉ bằng đường nét và màu sắc mà diễn tả đủ hết cả hỉ nộ ái ố trong đời sống.

Ông nói: “Mặt nạ chỉ lưu giữ, tập luyện, còn khi hóa trang diễn viên tự vẽ lên chính khuôn mặt của mình sẽ càng khó hơn nhiều. Muốn diễn Tuồng trước hết diễn viên phải tự hóa trang diễn xuất. Thông thường hóa trang mỗi gương mặt khó mất từ 45 - 60 phút. Nhưng quan trọng nhất phải vẽ có hồn, đòi hỏi người diễn viên phải am hiểu nhân vật, tập trung khi tự hóa trang cho chính mình, giữ được tâm trạng ổn định. Muốn làm được điều đó không gì quan trọng bằng luyện tập. Để vẽ được một khuôn mặt, có khi chúng tôi phải vẽ đi vẽ lại không biết bao lần mới ưng ý, có khi sần cả mặt vì tiếp xúc nhiều với màu vẽ, son phấn”.

Chính vì khả năng diễn xuất và khả năng hóa trang có một không hai của mình mà khi về hưu, ông vẫn được Nhà hát Tuồng Việt Nam mời giảng dạy hóa trang, và trường Đại học Sân khấu Điện ảnh mời giảng dạy nghệ thuật hóa trang, vũ đạo lẫn hướng dẫn diễn vai mẫu. Ngoài thời gian giảng dạy, hằng ngày nghệ sĩ Kim Kê vẫn miệt mài, tâm huyết với những chiếc mặt nạ tuồng bằng giấy bồi.

Nghệ thuật Tuồng giờ đây không còn được công chúng ái mộ như xưa. Những tài hoa như nghệ sĩ Kim Kê mỗi ngày một ít dần, hiểu biết của đời sống về tinh hoa xưa cũ cũng dần mai một. Nghệ sĩ Kim Kê hằng ngày vẫn miệt mài vẽ lại những nét hóa trang trên mặt nạ giấy bồi. Ông bảo: “Vẽ cho anh em diễn viên người ta có cái học, giữ lại cho nhân dân còn biết, nếu không thì sau này không ai biết được nữa”.

Tử Hưng

Xem thêm

'Một triệu khách đến chụp ảnh rồi về không hiệu quả bằng 500.000 khách ở lại cả ngày'

'Một triệu khách đến chụp ảnh rồi về không hiệu quả bằng 500.000 khách ở lại cả ngày'

(CLO) Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam có không gian rộng, cảnh quan đẹp và nguồn tài nguyên văn hóa của 54 dân tộc. Nhưng để trở thành điểm đến hàng đầu, điều quan trọng không chỉ là thu hút thêm người tới tham quan mà phải tạo được trải nghiệm đủ sâu, dịch vụ đủ tốt và lý do đủ thuyết phục để du khách ở lại, chi tiêu và quay trở lại.

Tìm giá trị đương đại trong di sản Trần Nhân Tông

Tìm giá trị đương đại trong di sản Trần Nhân Tông

(CLO) Ngày 24/8, tại Hà Nội, Viện Trần Nhân Tông (Đại học Quốc gia Hà Nội) tổ chức Hội thảo khoa học “Trần Nhân Tông - Những góc nhìn mới và giá trị thời đại”, với sự tham gia của các nhà nghiên cứu, học giả nhằm làm rõ hơn tầm vóc, tư tưởng và những giá trị còn nguyên ý nghĩa của vua Trần Nhân Tông trong đời sống đương đại.

Âm nhạc góp phần dựng xây thương hiệu văn hóa Hà Nội

Âm nhạc góp phần dựng xây thương hiệu văn hóa Hà Nội

(CLO) Từ những ca khúc quen thuộc về Hà Nội đến các tác phẩm jazz kinh điển của thế giới, chương trình “Âm nhạc cuối tuần” tại Nhà Bát Giác (Hà Nội) cho thấy sức sống của nghệ thuật trong không gian công cộng, góp phần tạo dựng diện mạo văn hóa đô thị cởi mở, sáng tạo và giàu bản sắc cho Thủ đô.

Đưa nghệ thuật cải lương đến gần hơn với công chúng Thủ đô

Đưa nghệ thuật cải lương đến gần hơn với công chúng Thủ đô

(CLO) Mới đây, tại sân khấu Nhà Bát Giác, phố đi bộ hồ Hoàn Kiếm (Hà Nội), chương trình “Biểu diễn nghệ thuật cộng đồng” của Nhà hát Cải lương Hà Nội mang đến cho người dân và du khách những tiết mục đặc sắc, góp phần đưa nghệ thuật sân khấu truyền thống đến gần hơn với công chúng.

‘Sao Độc lập’ 2026: Từ ánh sáng lịch sử đến khát vọng Việt Nam hùng cường

‘Sao Độc lập’ 2026: Từ ánh sáng lịch sử đến khát vọng Việt Nam hùng cường

(CLO) Chương trình chính luận nghệ thuật “Sao Độc lập” năm 2026 với chủ đề “Ánh sao độc lập - Khát vọng Việt Nam hùng cường” sẽ diễn ra lúc 20h ngày 30/8 tại Nhà hát Hồ Gươm, Hà Nội, hướng tới kỷ niệm 81 năm Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2/9, 81 năm Ngày truyền thống Công an nhân dân và 21 năm Ngày hội toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc.

Hồ Tây trước cơ hội chuyển mình: Từ chỉnh trang cảnh quan đến đánh thức những giá trị di sản

Hồ Tây trước cơ hội chuyển mình: Từ chỉnh trang cảnh quan đến đánh thức những giá trị di sản

Phát huy giá trị Hồ Tây không chỉ là bảo vệ mặt nước và chỉnh trang cảnh quan. Để Hồ Tây thực sự “sống”, cần đánh thức ký ức làng nghề bằng những không gian trình diễn, trải nghiệm, sản phẩm lưu niệm, lễ hội và hành trình du lịch có chiều sâu, mang bản sắc riêng của vùng hồ.

Nghệ nhân Dân gian Chu Văn Ngấn: 'Báu vật sống' giữ hồn văn hóa Lô Lô Đen nơi đại ngàn Cao Bằng

Nghệ nhân Dân gian Chu Văn Ngấn: 'Báu vật sống' giữ hồn văn hóa Lô Lô Đen nơi đại ngàn Cao Bằng

(CLO) Giữa trùng điệp núi rừng Bảo Lạc (tỉnh Cao Bằng), có một người đàn ông Lô Lô Đen đã dành gần nửa thế kỷ lặng thầm đi tìm, ghi chép và truyền dạy những làn điệu dân ca, điệu múa trống đồng của dân tộc mình. Không cam tâm nhìn bản sắc văn hóa tổ tiên mai một, Nghệ nhân Dân gian Chu Văn Ngấn đã trở thành ngọn lửa sưởi ấm và thắp sáng tình yêu di sản cho lớp lớp thế hệ trẻ nơi rẻo cao.

Bộ trưởng Lâm Thị Phương Thanh: Di chuyển di tích phải gắn với bảo tồn và phát huy giá trị di sản

Bộ trưởng Lâm Thị Phương Thanh: Di chuyển di tích phải gắn với bảo tồn và phát huy giá trị di sản

(CLO) Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thể thao & Du lịch (VHTT&DL) Lâm Thị Phương Thanh cho biết, việc di chuyển đình Đông Côi và đình Tam Sơn ở Bắc Ninh phải gắn với yêu cầu bảo tồn và phát huy giá trị di sản, tiếp nối truyền thống văn hóa, lịch sử của cộng đồng và dân tộc tại nơi mới.

Độc đáo lễ hội Thắk Côn của đồng bào Khmer Nam Bộ

Độc đáo lễ hội Thắk Côn của đồng bào Khmer Nam Bộ

(CLO) Lễ hội Thắk Côn (lễ hội Cúng dừa) là nghi lễ truyền thống đặc sắc của đồng bào Khmer Nam Bộ, mang ý nghĩa cầu bình an, mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, đồng thời thể hiện tinh thần đoàn kết cộng đồng.

Rực rỡ Lễ hội Ngàn hoa trên phố biển Quy Nhơn

Rực rỡ Lễ hội Ngàn hoa trên phố biển Quy Nhơn

(CLO) Điểm nhấn của Lễ hội Ngàn hoa là không gian rực rỡ được tạo nên từ hàng ngàn loài hoa, trong đó nhiều giống hoa đặc trưng của núi rừng Tây Nguyên hòa quyện cùng các loài hoa đến từ các vùng miền trên cả nước.

Đánh thức ‘kho tài sản’ văn hóa của 54 dân tộc

Đánh thức ‘kho tài sản’ văn hóa của 54 dân tộc

(CLO) Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam đang sở hữu nguồn tài nguyên đặc biệt từ kiến trúc, lễ hội, nghệ thuật, nghề thủ công, ẩm thực và tri thức của 54 dân tộc. Nhưng nguồn lực ấy chỉ có thể tạo ra giá trị bền vững khi cộng đồng được tham gia, ghi nhận và hưởng lợi.

Khơi dậy truyền thống hiếu học từ dòng họ Hà tại Hà Tĩnh

Khơi dậy truyền thống hiếu học từ dòng họ Hà tại Hà Tĩnh

(CLO) Ngày 22/8, tại Di tích Quốc gia đặc biệt Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Trung tâm Hoạt động Văn hóa Khoa học Văn Miếu - Quốc Tử Giám tổ chức Hội thảo khoa học “Tế tửu Quốc Tử Giám Hà Công Trình và truyền thống hiếu học dòng họ Hà tại Hà Tĩnh”.

Cỡ chữ bài viết: