Tăng trưởng cao nhưng giá trị gia tăng còn thấp
Theo báo cáo tại buổi làm việc giữa Bộ Công Thương và tỉnh Đắk Lắk ngày 11/8, GRDP ngành công nghiệp trong 6 tháng đầu năm đạt 15.945 tỷ đồng, vượt 6,14% so với kịch bản tăng trưởng và đóng góp gần 16% GRDP toàn tỉnh.
Trong 7 tháng đầu năm, chỉ số sản xuất công nghiệp ước tăng 13,99%; riêng tháng 7 tăng 18,70%. Công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 14,91%, sản xuất và phân phối điện tăng 12,34%.
Bốn nhà máy điện gió Cư Né 1, Cư Né 2, Krông Búk 1 và Krông Búk 2 với tổng công suất 200 MW đã vận hành thương mại. Những tháng cuối năm, tỉnh kỳ vọng thêm các nhà máy chế biến sầu riêng đông lạnh, mùa khai thác cao su và 9 dự án công nghiệp mới có tổng vốn hơn 1.120 tỷ đồng. Mục tiêu cả năm là đưa chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 16,62%.
Tuy nhiên, phía sau đà tăng trưởng ấy vẫn là một điểm nghẽn đáng lưu ý. Lãnh đạo tỉnh nhìn nhận công nghiệp chế biến hiện chủ yếu mới dừng ở khâu sơ chế; hạ tầng khu, cụm công nghiệp chưa đồng bộ và việc thu hút các dự án lớn có khả năng dẫn dắt chuỗi giá trị vẫn còn khó khăn.
Đây là vấn đề đáng suy nghĩ đối với một địa phương sở hữu vùng nguyên liệu nông nghiệp lớn như Đắk Lắk.
Cà phê, sầu riêng, hồ tiêu, cao su cùng nhiều loại nông sản khác đã tạo nên lợi thế đặc biệt cho tỉnh. Nhưng nếu phần lớn sản phẩm vẫn rời khỏi vùng nguyên liệu dưới dạng thô hoặc sơ chế thì phần giá trị gia tăng lớn nhất sẽ nằm ở những khâu phía sau. Sở hữu nhiều nguyên liệu vì thế chưa đồng nghĩa với việc giữ lại được nhiều giá trị.
Với mục tiêu tăng trưởng hai con số, dư địa từ việc tăng diện tích hay sản lượng sẽ ngày càng có giới hạn. Bài toán cần chuyển sang nâng giá trị trên cùng một sản phẩm.
Cà phê không thể chỉ dừng ở xuất khẩu hạt; sầu riêng không thể chỉ phụ thuộc vào trái tươi; cao su cũng không nên mãi dừng ở sản phẩm sơ chế. Phía sau mỗi sản phẩm cần hình thành thêm các tầng giá trị từ chế biến, bảo quản, thương hiệu, truy xuất nguồn gốc đến logistics và thị trường.
Từ vùng nguyên liệu đến chuỗi giá trị
Theo định hướng quy hoạch, tỉnh dự kiến phát triển 33 khu công nghiệp với tổng diện tích gần 10.885 ha và 66 cụm công nghiệp. Quan trọng hơn, Đắk Lắk có điều kiện kết nối vùng nguyên liệu phía Tây với không gian biển, cảng biển và logistics phía Đông.
Nếu tổ chức tốt, đây có thể trở thành một chuỗi tương đối hoàn chỉnh: vùng nguyên liệu - chế biến - logistics - cảng biển - thị trường.
Tuy nhiên, tại buổi làm việc, Thứ trưởng Bộ Công Thương Trương Thanh Hoài cũng chỉ ra một số điểm nghẽn cần sớm tháo gỡ, trong đó có kết nối giao thông và logistics giữa phía Đông với phía Tây; năng lực chế biến sâu còn hạn chế; một số dự án đầu tư triển khai chậm. Lĩnh vực năng lượng cũng còn vướng mắc liên quan đến quy hoạch, đất đai và thủ tục đầu tư.
Bởi vậy, câu chuyện của Đắk Lắk không chỉ nằm ở việc xây thêm bao nhiêu khu công nghiệp hay thu hút thêm bao nhiêu dự án, mà quan trọng hơn là thu hút được loại dự án nào.
Một nhà máy chế biến sâu đặt giữa vùng nguyên liệu có thể tạo đầu ra ổn định cho hàng nghìn hộ sản xuất. Một trung tâm logistics đủ năng lực có thể giúp doanh nghiệp giảm chi phí. Một doanh nghiệp đầu đàn có thể kéo theo mạng lưới doanh nghiệp hỗ trợ và dịch vụ cùng phát triển.
Yêu cầu chuyển từ khai thác tiềm năng sang tổ chức chuỗi giá trị cũng từng được các chuyên gia đặt ra khi hiến kế cho Đắk Lắk. PGS.TS Đoàn Minh Huấn, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, cho rằng tỉnh cần chuyển từ tư duy phát triển dựa trên địa giới sang tổ chức không gian kinh tế, chuỗi giá trị và năng lực cạnh tranh; đồng thời lựa chọn các ngành mũi nhọn, đẩy mạnh chế biến sâu, ứng dụng công nghệ và xây dựng thương hiệu.
Từ thực tiễn doanh nghiệp, ông Lê Đức Huy, Chủ tịch HĐQT Simexco Đắk Lắk, đề xuất xây dựng hệ thống dữ liệu thống nhất từ vùng nguyên liệu, hợp tác xã, doanh nghiệp đến thị trường tiêu thụ, xem dữ liệu như một dạng “hạ tầng mềm” phục vụ truy xuất nguồn gốc và kết nối thị trường.
Điều đó cho thấy chế biến sâu không chỉ là câu chuyện xây thêm nhà máy. Để một sản phẩm có giá trị cao hơn còn cần tiêu chuẩn sản xuất, công nghệ bảo quản, logistics, thương hiệu và khả năng đáp ứng yêu cầu của thị trường.
Với Đắk Lắk, câu hỏi của giai đoạn tăng trưởng mới không chỉ là sản xuất được bao nhiêu, mà quan trọng hơn là trong mỗi tấn cà phê, mỗi trái sầu riêng, mỗi sản phẩm cao su, địa phương có thể giữ lại bao nhiêu giá trị.
Thoát khỏi nền kinh tế sơ chế không chỉ là yêu cầu nâng giá trị nông sản, mà còn là bước chuyển để Đắk Lắk hình thành những chuỗi giá trị đủ sức cạnh tranh và tạo động lực cho mục tiêu tăng trưởng hai con số.