Đề xuất tổ hợp xiếc thực cảnh mang thương hiệu Việt

(CLO) Để trở thành một sản phẩm của công nghiệp văn hóa, xiếc Việt không thể chỉ dừng ở những chương trình biểu diễn đơn lẻ. Điều cần thiết là cơ chế đặt hàng đủ tầm, nguồn lực đầu tư dài hạn và sự tham gia của doanh nghiệp để hình thành những tác phẩm có thương hiệu, thị trường và vòng đời lâu dài.

Nghị quyết số 80-NQ/TW đặt mục tiêu các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP vào năm 2030 và 9% vào năm 2045. Trong khi đó, tỷ trọng hiện nay mới đạt khoảng 4% GDP. Khoảng cách này đặt ra yêu cầu phải chuyển những tiềm năng, lợi thế văn hóa thành sản phẩm cụ thể, có khả năng tạo doanh thu, việc làm, tài sản trí tuệ và sức cạnh tranh quốc gia.

Tại Phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu có cơ chế phát triển, đặt hàng và đầu tư trọng điểm đối với những tác phẩm, sản phẩm văn hóa có chất lượng nghệ thuật cao, khả năng tiếp cận công chúng lớn, giá trị giáo dục và sức lan tỏa quốc tế.

Đặt trong yêu cầu đó, nghệ thuật xiếc có nhiều lợi thế nhưng cũng đứng trước không ít điểm nghẽn. Đây là loại hình giàu tính thị giác, ít phụ thuộc vào ngôn ngữ, có thể phục vụ cả thị trường trong nước, khách du lịch và hoạt động giao lưu quốc tế. Tuy nhiên, để một tác phẩm xiếc đủ sức trở thành sản phẩm dẫn dắt, cách đầu tư cũng phải thay đổi căn bản.

Tác phẩm xiếc cần được nhìn như dự án văn hóa sáng tạo

Trao đổi với phóng viên, NSND Tống Toàn Thắng, Giám đốc Liên đoàn Xiếc Việt Nam, cho rằng một tác phẩm có khả năng đại diện cho Việt Nam tham gia các liên hoan quốc tế, phục vụ du lịch và quảng bá hình ảnh đất nước không thể được đầu tư như một chương trình biểu diễn thông thường.

toanthang1.jpg
NSND Tống Toàn Thắng, Giám đốc Liên đoàn Xiếc Việt Nam. Ảnh: NVCC

“Một tác phẩm xiếc chất lượng cao cần được nhìn nhận như một dự án văn hóa sáng tạo. Điều đó đòi hỏi cơ chế đầu tư đủ lớn, đủ dài hạn và đủ linh hoạt”, NSND Tống Toàn Thắng nói.

Theo ông, đặc thù của xiếc nằm ở quá trình chuẩn bị công phu và yêu cầu an toàn rất cao. Từ nghiên cứu kịch bản, sáng tác âm nhạc, thiết kế mỹ thuật, chế tạo đạo cụ đến huấn luyện kỹ thuật mới, chạy sân khấu và hoàn thiện biểu diễn đều cần nhiều thời gian. Một kỹ thuật mới không thể hình thành trong thời gian ngắn mà phải trải qua quá trình luyện tập nghiêm ngặt.

Vì vậy, để tạo ra một tác phẩm xiếc đỉnh cao, thời gian dàn dựng có thể kéo dài từ một đến hai năm. Nếu bị giới hạn bởi chu kỳ đầu tư ngắn, định mức cứng hoặc yêu cầu hoàn thành trong vài tháng, ê-kíp khó có điều kiện nghiên cứu, thử nghiệm và hoàn thiện sản phẩm ở mức độ đủ sức cạnh tranh quốc tế.

Nguồn lực đầu tư cũng không thể chỉ trông chờ vào ngân sách nhà nước. Theo Giám đốc Liên đoàn Xiếc Việt Nam, bên cạnh nguồn kinh phí dành cho nhiệm vụ đặt hàng, cần có cơ chế thu hút doanh nghiệp tham gia ngay từ khi hình thành ý tưởng, thay vì chỉ xuất hiện với vai trò tài trợ khi chương trình đã hoàn thành.

Sự tham gia sớm của doanh nghiệp có thể giúp dự án xác định rõ thị trường, đối tượng khán giả, phương án truyền thông và khả năng khai thác thương mại. Nhà nước đảm nhiệm vai trò đặt hàng, hỗ trợ sáng tạo và bảo đảm giá trị văn hóa; doanh nghiệp tham gia quản trị, truyền thông, phân phối và kết nối thị trường; địa phương hỗ trợ không gian biểu diễn, chính sách và liên kết với các điểm đến du lịch.

Khi ba chủ thể này cùng đồng hành, tác phẩm sẽ có điều kiện phát huy đồng thời giá trị nghệ thuật và giá trị kinh tế. Đây cũng là nền tảng để hình thành mô hình hợp tác công – tư phù hợp với lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn.

“Cơ chế đặt hàng nên chuyển từ tư duy đầu tư cho một buổi biểu diễn sang đầu tư cho một sản phẩm văn hóa có vòng đời dài. Ngay từ đầu phải xác định tác phẩm được khai thác ở đâu, phục vụ đối tượng nào, khả năng biểu diễn thường xuyên, lưu diễn quốc tế và phát triển thành sản phẩm du lịch, giáo dục hay nội dung số ra sao”, NSND Tống Toàn Thắng nhấn mạnh.

Kéo dài vòng đời tác phẩm, hình thành chuỗi giá trị

Một trong những hạn chế của hoạt động nghệ thuật biểu diễn lâu nay là không ít chương trình được đầu tư công phu nhưng chỉ xuất hiện trong một số đêm diễn. Khi chương trình khép lại, đạo cụ được cất kho, ê-kíp giải tán và giá trị của tác phẩm cũng khó được khai thác tiếp.

Theo NSND Tống Toàn Thắng, công nghiệp văn hóa đòi hỏi cách tiếp cận khác. Một tác phẩm xiếc thành công cần được phát triển thành chương trình biểu diễn thường xuyên, có khả năng phục vụ khách du lịch, lưu diễn trong nước và quốc tế. Từ hạt nhân là tác phẩm sân khấu, đơn vị nghệ thuật có thể mở rộng sang nội dung số, giáo dục trải nghiệm, phim tài liệu, bản quyền hình ảnh, âm nhạc, sản phẩm lưu niệm và nhiều sản phẩm sáng tạo khác.

Khi đó, doanh thu không chỉ đến từ bán vé. Câu chuyện, hình tượng nhân vật, âm nhạc, thiết kế mỹ thuật và các thành tố sáng tạo của tác phẩm có thể trở thành tài sản trí tuệ, tiếp tục được khai thác trên nhiều nền tảng.

Cách làm này vừa kéo dài vòng đời tác phẩm, vừa tạo nguồn thu để tái đầu tư cho sáng tạo, nâng cao đời sống nghệ sĩ và giảm dần sự phụ thuộc vào ngân sách. Quan trọng hơn, nó chuyển một chương trình sân khấu thành mắt xích trong chuỗi giá trị văn hóa, kết nối nghệ thuật với du lịch, giáo dục, truyền thông, công nghệ và thương mại.

“Đóng góp của xiếc vào công nghiệp văn hóa không nên chỉ được đo bằng doanh thu trực tiếp của một buổi biểu diễn. Giá trị của xiếc còn nằm ở khả năng tạo việc làm và kích thích nhiều ngành kinh tế khác cùng phát triển”, NSND Tống Toàn Thắng nhận định.

Theo đó, một chương trình hoạt động thường xuyên không chỉ tạo việc làm cho nghệ sĩ mà còn cần đến đạo diễn, biên đạo, nhạc sĩ, họa sĩ thiết kế, kỹ thuật viên, chuyên gia công nghệ, nhân sự truyền thông và quản trị. Khi được kết nối với du lịch, chương trình còn có thể góp phần tăng thời gian lưu trú, mức chi tiêu của du khách và tạo thêm giá trị cho các ngành vận chuyển, lưu trú, ẩm thực, thương mại.

Biến rạp xiếc thành điểm đến văn hóa

Nếu chỉ được lựa chọn một dự án dẫn dắt trong giai đoạn tới, NSND Tống Toàn Thắng đề xuất xây dựng “Tổ hợp biểu diễn xiếc thực cảnh và văn hóa Việt Nam” - một thương hiệu biểu diễn quy mô lớn, hoạt động thường xuyên, ứng dụng công nghệ hiện đại và lấy chất liệu từ lịch sử, truyền thuyết, bản sắc dân tộc.

Hạt nhân của tổ hợp là chương trình xiếc được dàn dựng theo tiêu chuẩn quốc tế, kể câu chuyện Việt Nam bằng ngôn ngữ biểu diễn đương đại. Bao quanh chương trình chính là hệ sinh thái gồm biểu diễn định kỳ, giáo dục trải nghiệm, không gian tương tác, nội dung số, lưu diễn quốc tế, sản phẩm lưu niệm và hoạt động khai thác bản quyền.

Mô hình này hướng tới việc biến xiếc thành một điểm đến văn hóa, thay vì chờ khán giả tìm đến từng chương trình riêng lẻ. Nếu được kết nối với các tuyến và điểm du lịch, sản phẩm có thể bổ sung trải nghiệm về đêm, tạo thêm lý do để du khách lưu trú lâu hơn, đồng thời quảng bá hình ảnh Việt Nam bằng một loại hình nghệ thuật dễ tiếp cận với công chúng quốc tế.

Tuy nhiên, để ý tưởng bước khỏi phạm vi đề xuất, dự án cần tiếp tục được cụ thể hóa về địa điểm, quy mô, doanh nghiệp tham gia, tổng mức đầu tư, phương thức vận hành và thị trường mục tiêu. Các chỉ tiêu về số suất diễn, lượng khán giả, doanh thu, việc làm, tài sản trí tuệ và khả năng thu hút khách du lịch cũng cần được tính toán rõ ràng.

Đây chính là yêu cầu đặt ra đối với một dự án dẫn dắt của công nghiệp văn hóa: không chỉ có ý tưởng nghệ thuật mà phải chứng minh được sản phẩm, nguồn vốn, thị trường và sự đóng góp về kinh tế.

Nghệ thuật xiếc có thể không sở hữu thị trường đại chúng lớn như điện ảnh hay âm nhạc, nhưng lại có lợi thế về biểu diễn trực tiếp, khả năng vượt qua rào cản ngôn ngữ và quảng bá hình ảnh quốc gia. Vấn đề còn lại là xây dựng được sản phẩm đủ sức giữ chân khán giả, vận hành ổn định và hình thành thương hiệu.

“Khi có cơ chế đặt hàng đủ tầm, nguồn lực đầu tư ổn định và sự tham gia của doanh nghiệp, xiếc Việt Nam hoàn toàn có thể tạo ra những tác phẩm mang tầm khu vực, thậm chí quốc tế”, NSND Tống Toàn Thắng khẳng định.

Từ một loại hình nghệ thuật cần được bảo tồn đến một sản phẩm có thương hiệu và thị trường là chặng đường không ngắn. Nhưng nếu hình thành được những “tác phẩm đinh” có vòng đời dài, xiếc Việt không chỉ giữ được sân khấu và đội ngũ nghệ sĩ, mà còn có thể trở thành một phần năng động trong hệ sinh thái công nghiệp văn hóa, góp phần đưa câu chuyện Việt Nam đến với thế giới.

Xem thêm

Nhà hát Hồ Gươm đón hơn 100 nghệ sĩ trẻ tài năng châu Á

Nhà hát Hồ Gươm đón hơn 100 nghệ sĩ trẻ tài năng châu Á

(CLO) Trong hai tối 12 và 13/8, Dàn nhạc Giao hưởng Trẻ châu Á với hơn 100 nghệ sĩ trẻ đến từ nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ châu Á lần đầu biểu diễn tại Nhà hát Hồ Gươm, mang đến cho công chúng Thủ đô những tác phẩm kinh điển của âm nhạc thế giới.

Video Art: Đưa nghệ thuật ra khỏi những “bức tường trắng”

Video Art: Đưa nghệ thuật ra khỏi những “bức tường trắng”

(NB&CL) Khi màn hình quảng cáo ngày càng phủ kín đời sống đô thị, video art - loại hình nghệ thuật đa định dạng sử dụng công nghệ hình ảnh động và âm thanh để truyền tải ý niệm - đang đứng trước một cơ hội đặc biệt: Bước ra khỏi những không gian triển lãm quen thuộc để gặp công chúng ngay trong nơi họ sống, làm việc và đi qua mỗi ngày.

Hà Nội xây dựng thương hiệu liên hoan Jazz quốc tế

Hà Nội xây dựng thương hiệu liên hoan Jazz quốc tế

(CLO) Hanoi Jazztival 2026 diễn ra từ ngày 17 đến 19/9 tại nhiều không gian văn hóa, di sản và đường phố của Thủ đô, quy tụ nghệ sĩ đến từ Việt Nam, Hoa Kỳ, Pháp, Hàn Quốc, Nhật Bản…, mở đầu cho kế hoạch tổ chức liên hoan thường niên.

Tiền bản quyền điện ảnh: Làm sao để người sáng tạo hưởng lợi tương xứng?

Tiền bản quyền điện ảnh: Làm sao để người sáng tạo hưởng lợi tương xứng?

(CLO) Theo Luật sư Diệp Năng Bình, quy định tiền bản quyền theo tỷ lệ phần trăm giá thành sản xuất đối với các chức danh sáng tạo trong điện ảnh là bước tiến đáng chú ý, tạo cơ sở định lượng rõ hơn giá trị lao động sáng tạo. Tuy nhiên, để chính sách đi vào thực tế, cần minh bạch giá thành sản xuất, doanh thu và phạm vi khai thác tác phẩm.

Đề tài lịch sử gia tăng sức hút trên màn ảnh Việt

Đề tài lịch sử gia tăng sức hút trên màn ảnh Việt

(CLO) Từ những nhân vật, sự kiện đến những câu chuyện chưa được kể nhiều, lịch sử Việt Nam đang trở thành nguồn chất liệu được điện ảnh khai thác theo nhiều cách mới. Sự sáng tạo trong cách kể đang mở thêm cơ hội để những câu chuyện của quá khứ đến gần hơn với khán giả hôm nay.

Khấu trừ 10% cát-xê, nghệ sĩ vẫn có thể bị truy thu thuế?

Khấu trừ 10% cát-xê, nghệ sĩ vẫn có thể bị truy thu thuế?

(CLO) Cát-xê thuộc diện khấu trừ 10% được đơn vị tổ chức giữ lại thuế trước khi thanh toán không đồng nghĩa trong mọi trường hợp nghệ sĩ đã hoàn tất nghĩa vụ thuế. Rủi ro có thể phát sinh khi nghệ sĩ có nhiều nguồn thu nhưng bỏ sót thu nhập hoặc không thực hiện quyết toán theo quy định.

Cỡ chữ bài viết: