Tại hội thảo Hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới do Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý (Bộ Tư pháp) tổ chức ngày 14-8, các chuyên gia cảnh báo AI và nền tảng số ngày càng tác động trực tiếp đến quyền, cơ hội của người dân, kéo theo những vấn đề mới về minh bạch, phân biệt đối xử và trách nhiệm pháp lý.
Khi AI tham gia vào quyết định...
Theo PGS.TS Nguyễn Hiền Phương (Đại học Luật Hà Nội), tính đến đầu năm 2026, ứng dụng định danh điện tử VNeID đã có khoảng 67 triệu tài khoản định danh điện tử và tích hợp 50 dịch vụ số.
Cổng Dịch vụ công quốc gia cung cấp quyền truy cập tới khoảng 4.700 thủ tục hành chính, xử lý 11,5 triệu hồ sơ trực tuyến trong năm 2025 và giúp tiết kiệm hơn 4.000 tỷ đồng chi phí xã hội.
Bên cạnh đó, kinh tế số tiếp tục khẳng định vai trò là một trong những động lực tăng trưởng quan trọng, gắn chặt với tiến trình chuyển đổi số quốc gia.
Tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP của Việt Nam liên tục tăng trong giai đoạn 2021-2025, đạt 14,02% GDP, tương đương khoảng 72,1 tỷ USD vào năm 2025.
Chuyển đổi số đang tạo ra một môi trường mới, thuận lợi hơn nhưng cũng làm phát sinh một số rủi ro. Dữ liệu cá nhân hiện không chỉ được sử dụng để xác thực danh tính hay cung cấp dịch vụ mà còn có thể được dùng để phân loại, dự đoán, đánh giá và đưa ra quyết định về một cá nhân.
GS.TS Vũ Công Giao (Trường ĐH Luật Hà Nội) cho rằng trong thực tế, các hệ thống quyết định tự động dựa trên trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến các quyền tiếp cận dịch vụ, việc làm, tín dụng hoặc an sinh nhưng người dân khó biết tiêu chí, dữ liệu và cách phản đối kết quả.
Rủi ro không chỉ nằm ở việc dữ liệu bị rò rỉ hoặc sử dụng sai mục đích. Một hệ thống thiếu minh bạch hoặc mang thiên lệch từ dữ liệu và thiết kế ban đầu cũng có thể khiến cá nhân bị đối xử bất lợi.
Do đó, chúng ta cần bảo đảm quyền được biết, được giải thích, được phản đối quyết định tự động và được yêu cầu con người xem xét lại. Bên cạnh đó, cần có cơ chế kiểm toán thuật toán và phòng chống phân biệt đối xử bằng thuật toán.
Dữ liệu lớn và AI có thể tạo ra những quyết định ảnh hưởng đến quyền con người nhưng không dễ xác định chủ thể chịu trách nhiệm. Nhưng tốc độ biến đổi của đời sống kinh tế, xã hội và công nghệ đang nhanh hơn chu kỳ xây dựng, ban hành và sửa đổi pháp luật, dẫn đến nguy cơ xuất hiện khoảng trống và độ trễ pháp lý.
Đề xuất giám sát thuật toán và nền tảng số
PGS.TS Nguyễn Hiền Phương đánh giá pháp luật Việt Nam đã bước đầu hình thành nhiều lớp bảo vệ quyền con người trong môi trường số nhưng còn phân tán, chưa đồng bộ và chưa bảo đảm đầy đủ khả năng tiếp cận thực chất của các nhóm yếu thế.
Trong giai đoạn 2026 – 2030, Việt Nam đã có nền tảng pháp lý quan trọng về dữ liệu cá nhân, trí tuệ nhân tạo, an ninh mạng và giao dịch điện tử. Vì vậy, nhiệm vụ trọng tâm là tiếp tục rà soát, hướng dẫn áp dụng thống nhất và bảo đảm các quy định này vận hành thực chất trong thực tiễn.
Trong khi đó, TS Tường Duy Kiên (Học viện Chính trị Quốc gia HCM) đề xuất một số hướng nghiên cứu dài hạn về hoàn thiện pháp luật. Ông kiến nghị xây dựng Luật Quyền con người trong không gian số, nhằm xây dựng khuôn khổ pháp lý tổng thể về bảo vệ quyền con người trên internet và nền tảng số, trong đó có quyền tiếp cận thông tin và vấn đề phân biệt đối xử bằng thuật toán.
Ông cũng đề xuất nghiên cứu Luật Quản trị trí tuệ nhân tạo, theo hướng quản trị AI lấy con người làm trung tâm, kiểm soát rủi ro đối với quyền con người, quyền công dân và xác định trách nhiệm của Nhà nước, doanh nghiệp, nền tảng công nghệ trong phát triển, ứng dụng AI.
Một hướng khác được TS Tường Duy Kiên đề cập là nghiên cứu Luật Giám sát thuật toán và nền tảng số, nhằm kiểm soát những thuật toán có ảnh hưởng lớn đến quyền con người, dư luận xã hội, quyền tiếp cận thông tin và quyền tự do biểu đạt.
Có ý kiến chuyên gia cho rằng hoàn thiện pháp luật cần tính đến tác động của AI đối với việc làm, an sinh xã hội và khoảng cách số, cần đưa Luật Trí tuệ nhân tạo vào nhóm văn bản cần được sửa đổi, bổ sung cùng với các luật liên quan đến việc làm, bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế.
Cùng với pháp luật bắt buộc, PGS.TS Nguyễn Hiền Phương cho rằng cần kết hợp các công cụ như bộ quy tắc ứng xử, tiêu chuẩn kỹ thuật, hướng dẫn đạo đức AI, khung đánh giá rủi ro và cơ chế tự đánh giá của doanh nghiệp, nhằm thích ứng với tốc độ phát triển của công nghệ.
Như vậy, vấn đề không phải là ngăn AI tham gia vào đời sống, mà là bảo đảm AI phát triển trong một khuôn khổ phù hợp, bảo vệ quyền của người dân.