UBND tỉnh Phú Yên "thất hứa" với nhà đầu tư?
Theo hồ sơ phóng viên có được, sau khi Dự án đầu tư xây dựng công trình nâng cấp tuyến đường bộ nối hai tỉnh Phú Yên và Gia Lai hoàn thành giai đoạn 1 và đưa vào sử dụng, các cơ quan chức năng địa phương đã nhiều lần làm việc, cam kết với nhà đầu tư nhằm tháo gỡ các vướng mắc liên quan đến thanh toán và quyết toán dự án.
Một trong những mốc đáng chú ý là cuộc họp ngày 22/04/2020 giữa lãnh đạo Tỉnh ủy, UBND tỉnh Phú Yên (cũ), các sở ngành liên quan cùng nhà đầu tư. Biên bản cuộc họp thể hiện rõ tinh thần tháo gỡ khó khăn để sớm hoàn tất các thủ tục tài chính cho dự án: UBND tỉnh Phú Yên thanh toán toàn bộ giá trị hợp đồng giai đoạn 1 của dự án và toàn bộ chi phí nhà đầu tư đã thực hiện thuộc giai đoạn 2 của dự án cho nhà đầu tư chậm nhất trước ngày 30/9/2020. Sau khi ký kết Phụ lục hợp đồng, UBND tỉnh Phú Yên sẽ thanh toán ngay cho nhà đầu tư toàn bộ số vốn đã được bố trí cho dự án.
Tiếp sau đó, một Biên bản mang tính pháp lý cốt lõi khác tiếp tục được xác lập, đó là Biên bản làm việc ngày 29/12/2020 ngay tại văn phòng UBND tỉnh Phú Yên (cũ) với sự tham gia của ba bên gồm chính quyền địa phương, nhà đầu tư và đại diện ngân hàng (bên cho vay).
Tại Biên bản này, các bên đã ký kết thống nhất: UBND tỉnh Phú Yên (cũ) thực hiện thanh toán lần cuối cùng toàn bộ chi phí thực hiện dự án cho nhà đầu tư chậm nhất đến hết ngày 30/6/2021; đồng thời chính quyền có trách nhiệm báo cáo ban Thường vụ Tỉnh ủy, HĐND tỉnh cho phép trước khi phê duyệt điều chỉnh tổng mức đầu tư và hoàn thành phê duyệt trong Quý I/2021 làm cơ sở quyết toán dự án hoàn thành.
Bên cạnh đó, tại biên bản làm việc ngày 29/12/2020, các bên có thống nhất, UBND tỉnh Phú Yên thực hiện thanh toán lần cuối cùng toàn bộ các chi phí thực hiện dự án cho nhà đầu tư chậm nhất đến hết ngày 30/6/2021. Trường hợp UBND tỉnh Phú Yên thu xếp được nguồn vốn cho dự án sớm hơn (trước ngày 30/6/2021) sẽ tiến hành thanh toán ngay cho nhà đầu tư.
Ngoài ra, tại Điều 4 Phụ lục hợp đồng số 02/2020/PLHĐ-BT ký ngày 24/7/2020 có quy định: “Bên A sẽ thanh toán toàn bộ các chi phí cho Bên B chậm nhất đến ngày 31/12/2020”.
Đối với doanh nghiệp, đây là một cam kết đặc biệt quan trọng bởi toàn bộ phương án tài chính của dự án được xây dựng trên cơ sở nguồn vốn tín dụng từ ngân hàng. Khi thời hạn thanh toán được xác lập, doanh nghiệp có căn cứ để tính toán dòng tiền, cơ cấu nợ vay và các kế hoạch đầu tư tiếp theo.
Tuy nhiên, theo phản ánh của doanh nghiệp, các mốc thời gian nêu trên sau đó đều không được UBND tỉnh Phú Yên (cũ) thực hiện như đã thống nhất. Quá trình thanh toán tiếp tục bị trì hoãn kéo dài, trong khi các khoản chi phí tài chính vẫn phát sinh từng ngày.
Cuộc "giằng co" giữa 2 bên và mong chờ cán cân công lý
Cực chẳng đã, ngày 13/06/2024, Công ty TNHH Đầu tư BT Phú Yên – Gia Lai đã nộp đơn khởi kiện đến TAND tỉnh Phú Yên (cũ) để giải quyết vụ việc theo trình tự tố tụng dân sự.
Ngày 20/5/2026, vụ án được đưa ra xét xử tại TAND tỉnh Đắk Lắk. Tuy nhiên, HĐXX đã quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án xuất phát từ Công văn số 3417/SXD-QLXD ký ngày 12/5/2026 của Sở Xây dựng tỉnh Đắk Lắk, đề nghị tạm đình chỉ để các đương sự “tự hòa giải” và chờ Kiểm toán Nhà nước vào cuộc rà soát theo tinh thần Nghị quyết số 16/2026/NQ-CP của Chính phủ.
Phát biểu tại tòa, ông Phạm Văn Tiến, Phó giám đốc Sở Xây dựng Đắk Lắk (người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn là UBND tỉnh) cho rằng, đề nghị tạm đình chỉ vụ án là có cơ sở hợp lý, như quá trình thực hiện dự án có nhiều khó khăn vướng mắc, không đủ cơ sở để thực hiện thanh quyết toán dự án, nên UBND tỉnh đã đề nghị hướng dẫn tháo gỡ khó khăn. Đến nay, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 16 nhằm tháo gỡ khó khăn vướng mắc với các hợp đồng BT.
Ông Phạm Văn Tiến dẫn nội dung một biên bản làm việc với cơ quan thanh tra, cho rằng UBND tỉnh Phú Yên cũ đã phê duyệt dự án khi không cân đối nguồn vốn của tỉnh.
Ông Tiến cũng viện dẫn khoản 1, khoản 3 Điều 5 Nghị quyết 16: “Với hợp đồng dự án quy định hình thức thanh toán bằng ngân sách Nhà nước được xác định có nội dung chưa phù hợp quy định pháp luật tại thời điểm ký kết; mà nguyên nhân do lỗi của cơ quan Nhà nước; cơ quan có thẩm quyền được xem xét, thỏa thuận với nhà đầu tư để sửa đổi, bổ sung hợp đồng, tiếp tục thực hiện thanh toán cho nhà đầu tư”, để cho rằng dự án thuộc diện điều chỉnh của Nghị quyết 16....
Tuy nhiên, phía Công ty BT Phú Yên – Gia Lai không đồng ý với quan điểm của bị đơn khi cho rằng, các kết luận của Kiểm toán Nhà nước đã chỉ ra rất rõ ràng về tổng chi phí doanh nghiệp thực hiện dự án được nhận sau khi hoàn thành và hợp đồng BT đã ký kết hoàn toàn đúng quy định pháp luật. Tất cả các văn bản làm việc giữa các bên đều không có nội dung nào khẳng định hợp đồng BT này trái luật.
Phía nguyên đơn cũng cho biết, bị đơn viện dẫn khoản 3 Điều 5 Nghị quyết 16 nhưng căn cứ này không thỏa mãn quy định tại chính điểm c khoản 3 Điều 5 cũng của Nghị quyết 16. Theo quy định tại điểm c, điều kiện áp dụng khoản 1 và khoản 2 Điều 5 là phải có sự thống nhất giữa cơ quan thẩm quyền và nhà đầu tư về việc sửa đổi, bổ sung hợp đồng để tiếp tục thực hiện dự án. Trong khi ở vụ kiện này, dự án đã hoàn thành, đưa vào sử dụng từ 6 năm nay.
“Điều kiện để áp dụng Nghị quyết 16 là phải đạt được thỏa thuận với nhà đầu tư. Trong vụ án này, các bên đã làm việc với nhau nhiều lần trong nhiều năm nhưng không đạt được thỏa thuận, vì vậy viện dẫn Nghị quyết 16 là không hợp lý”, phía nguyên đơn nói.
Quan điểm về vụ việc, Luật sư Nguyễn Thanh Tùng – Công ty luật VJLAW Việt Nam, cho rằng cần nhìn nhận đầy đủ mục tiêu mà Nghị quyết 16 hướng tới. Theo ông, đây là nghị quyết được Chính phủ ban hành nhằm tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc đối với các dự án tồn đọng, qua đó khơi thông nguồn lực đầu tư, hạn chế lãng phí và đưa các dự án sớm đi vào vận hành hiệu quả. Việc áp dụng Nghị quyết 16 đối với từng dự án cụ thể cần được xem xét trên cơ sở đặc điểm pháp lý và thực tiễn của từng vụ việc.
Luật sư Tùng phân tích, Điều 5 Nghị quyết 16 chủ yếu được thiết kế để xử lý các dự án chuyển tiếp còn dang dở hoặc đang gặp vướng mắc khiến quá trình triển khai không thể tiếp tục. Một trong những điều kiện quan trọng được nghị quyết đặt ra là cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư phải thống nhất sửa đổi, bổ sung hợp đồng để tiếp tục thực hiện dự án. Trong khi đó, đối với Dự án BT Phú Yên – Gia Lai, công trình đã hoàn thành, được nghiệm thu, bàn giao và đưa vào sử dụng từ năm 2020. Vì vậy, vấn đề còn lại chủ yếu tập trung ở khâu thanh toán, quyết toán và xử lý các nghĩa vụ tài chính phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng.
"Từ góc độ pháp lý, cần làm rõ dự án có thuộc phạm vi điều chỉnh của cơ chế tại Điều 5 Nghị quyết 16 hay không, hay cần được xử lý theo các quy định khác liên quan đến quyết toán, thanh toán và trách nhiệm thực hiện hợp đồng đã ký kết. Đây là nội dung cần được các cơ quan chức năng đánh giá thận trọng, khách quan trên cơ sở hồ sơ vụ việc", Luật sư Tùng nói.
Trong khi các bên vẫn đang chờ một hướng xử lý dứt điểm, nghĩa vụ tài chính liên quan đến dự án không vì thế mà dừng lại. Theo tính toán của doanh nghiệp, tính đến thời điểm bắt đầu khởi kiện (tháng 6/2024), tổng số tiền mà UBND tỉnh Đắk Lắk có nghĩa vụ phải chi trả chi phí thực hiện dự án (đã có xác nhận của Kiểm toán Nhà nước) cùng với các khoản lãi quá hạn, lãi chậm trả giai đoạn 1 là khoảng 480 tỷ đồng. Tuy nhiên, tính đến ngày vụ án được đưa ra xét xử (20/5/2026), tổng số tiền phải thanh toán cấu thành từ nợ gốc, các loại lãi chậm trả phát sinh mới và tiền phạt hợp đồng đã phình to lên tới 915.420.900.000 đồng.
Phía doanh nghiệp cũng tính toán rằng, trung bình cứ mỗi một ngày trôi qua mà khoản nợ này không được tất toán, số tiền lãi phát sinh từ nghĩa vụ trả chậm sẽ tự động tăng thêm khoảng 130 triệu đồng.
Thiết nghĩ, những vướng mắc kéo dài tại Dự án BT Phú Yên – Gia Lai cần sớm được tháo gỡ để giải cứu cho doanh nghiệp thực hiện dự án theo tinh thần Nghị quyết 68 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân.
Báo Nhà báo và Công luận sẽ tiếp tục thông tin./.