Trong bối cảnh hệ thống sông, hồ, kênh rạch chằng chịt và tác động ngày càng rõ nét của biến đổi khí hậu, phòng, chống đuối nước cho trẻ em tiếp tục là vấn đề cấp thiết, đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của các cấp, các ngành và toàn xã hội.
PGS,TS Nguyễn Tri Thức, Thứ trưởng Bộ Y tế cho biết, từ năm 2018 đến nay, hơn 63.000 trẻ em Việt Nam đã được dạy bơi an toàn; hơn 1.500 giáo viên thể dục được cấp chứng nhận giảng dạy bơi; trên 30.000 cha mẹ, người chăm sóc trẻ và giáo viên mầm non được tập huấn kiến thức, kỹ năng phòng, chống đuối nước.
Theo đánh giá, tại các địa phương triển khai can thiệp, tỷ lệ đuối nước ở trẻ em đã giảm 16% so với trước đó, góp phần giảm đáng kể số ca tử vong do đuối nước.
Tuy nhiên, mỗi năm cả nước vẫn ghi nhận khoảng 1.800 trẻ em tử vong vì đuối nước, đưa Việt Nam vào nhóm quốc gia có tỷ lệ tử vong do tai nạn thương tích ở trẻ em ở mức cao trên thế giới.
Thứ trưởng Nguyễn Tri Thức nhấn mạnh, những kết quả và bài học thực tiễn rút ra từ 10 tỉnh, thành phố triển khai chương trình là cơ sở quan trọng để thảo luận, xây dựng chiến lược liên ngành, với tinh thần quyết tâm hành động nhằm bảo vệ trẻ em – chủ nhân tương lai của đất nước.
Ở góc độ phân tích kinh tế – xã hội, Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Anh, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Chính sách và Phát triển cho biết, cứ mỗi 1 USD đầu tư cho hoạt động dạy bơi an toàn cho trẻ em có thể mang lại mức hoàn vốn đầu tư lên tới 20 USD.
Đây là tỷ lệ hoàn vốn rất cao, trong khi chi phí trung bình cho một buổi học bơi cho khoảng 20 trẻ chỉ vào khoảng 50.000 đồng. Trong khi đó, gánh nặng kinh tế do đuối nước ở trẻ em ước tính lên tới hơn 15 tỷ đồng mỗi năm.
Theo kết quả triển khai, chi phí trung bình để đào tạo một trẻ em biết bơi an toàn chỉ khoảng hơn 720.000 đồng. Cùng với hiệu quả đầu tư cao, đây là cơ sở dữ liệu quan trọng để các địa phương tham khảo trong việc ưu tiên bố trí ngân sách và đẩy mạnh xã hội hóa công tác phòng, chống đuối nước.
Từ thực tiễn triển khai chương trình, bà Đoàn Thị Thu Huyền, Giám đốc quốc gia Tổ chức Campaign for Tobacco-Free Kids tại Việt Nam đề xuất cần lồng ghép phòng, chống đuối nước trẻ em vào các chỉ tiêu phát triển kinh tế – xã hội của quốc gia và địa phương; đưa tỷ lệ trẻ em biết bơi an toàn, có kỹ năng an toàn vào hệ thống chỉ số phát triển nhằm tạo động lực thực thi mạnh mẽ.
Cùng với đó, công tác phòng, chống đuối nước cần được chuẩn hóa, tăng cường giám sát, thu thập và phân tích số liệu để xây dựng các can thiệp phù hợp theo từng địa phương; kiểm tra chặt chẽ các cơ sở dạy bơi, bảo đảm tuân thủ nghiêm các quy định về an toàn.
Trong bối cảnh thiên tai, bão lũ và thời tiết cực đoan gia tăng, các nội dung giáo dục kỹ năng phòng, chống đuối nước cần được lồng ghép vào chương trình ứng phó biến đổi khí hậu và phòng, chống thiên tai, giúp trẻ em nâng cao khả năng tự bảo vệ.
Hướng tới năm 2026, khi chương trình được chuyển giao cho Bộ Y tế và các địa phương, việc nâng cao năng lực quản lý, nhân rộng các mô hình can thiệp hiệu quả như cộng đồng an toàn, trường học an toàn được xác định là nhiệm vụ cấp bách, nhằm giảm thiểu tối đa những mất mát do đuối nước gây ra đối với trẻ em và xã hội.