Giấy dó, trăn trở chuyện bảo tồn…

(NB&CL) Có tuổi đời hơn 800 năm, giấy dó là một trong những loại giấy thủ công truyền thống nổi tiếng của người Việt với nhiều ưu điểm và ứng dụng độc đáo. Song, nghề này đang dần mai một. Việc bảo tồn, thậm chí nâng tầm giấy dó thành di sản quốc gia đã được tính đến, nhưng đó vẫn là câu chuyện dài…

Nghề tinh, giấy quý

Trong tiềm thức của người Việt, nói đến tranh dân gian Đông Hồ, tranh Hàng Trống, sắc phong của các triều đại phong kiến… là nói đến giấy dó. Giấy dó cũng được dùng để chép sử, ghi lại gia phả, thần tích và đặc biệt là dùng trong thi cử. Yếu tố dai, bền, mỏng nhưng không nhòe mực của giấy dó đã giúp cha ông ta lưu giữ nhiều tư liệu vô giá.

giay do tran tro chuyen bao ton hinh 1

Ở Dương Ổ hiện nay chỉ còn một số ít hộ giữ nghề làm giấy dó.

Nước ta từng có nhiều làng nghề sản xuất giấy dó như Yên Thái (Hà Nội), Đống Cao (Bắc Ninh)… Nhiều nghiên cứu cho thấy, nghề làm giấy dó ở Việt Nam có từ rất sớm và vào thế kỷ XV nghề này đã phát triển rất hưng thịnh.

Tuy nhiên, trải qua thăng trầm của lịch sử, cùng với sự phát triển của khoa học, sự thay đổi chữ viết, sự lên ngôi của giấy công nghiệp, giờ đây nghề làm giấy dó dần tự thu hẹp quy mô, sản lượng. Nghề làm giấy làng Yên Thái đi vào ca dao ngày xưa, giờ đây đã thất truyền.

Còn ở Dương Ổ (tên nôm là làng Đống Cao), cách đây vài ba chục năm giấy dó còn phơi trắng từ bờ đê sông Ngũ Huyện Khê đến bờ ao, đường làng thì giờ đây chỉ còn dăm ba hộ theo nghề. Sản phẩm giấy dó chỉ làm theo các đơn đặt hàng làm tranh, phục chế các văn bản cổ và số ít bán cho khách du lịch.

Theo thống kê của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Ninh, ở Dương Ổ nay chỉ còn 5 hộ làm giấy dó, trong đó cũng chỉ có 2 hộ làm thường xuyên. Gia đình ông Phạm Văn Tâm là một trong số hai hộ đó. Ông Tâm cũng được biết đến là một trong vài ba người còn làm được giấy sắc, dùng để phục chế những bản sắc phong của các triều đại phong kiến xưa kia.

“Làm giấy dó đã được coi là kỳ công nhưng làm giấy sắc còn phức tạp hơn nhiều. Giấy sắc phải kỹ hơn từ việc chọn nguyên liệu, khổ giấy lớn hơn, giấy xeo dày hơn”, ông Tâm nói.

Ngoài các công đoạn bình thường, giấy sắc còn phải nhuộm bằng bột hoa hòe để có màu vàng đặc trưng. Sau đó người thợ phải “nghè” bằng cách đặt những tờ giấy trên một phiến đá, dùng chày gỗ nện đều tay nhẹ nhàng để giấy mỏng đều, đanh mặt.

Tiếp đó là công đoạn “đánh vàng”, “đánh bạc” để mặt tờ giấy ẩn chìm những nhũ kim lấp lánh rồi vẽ trang trí hình rồng phượng. Sau các công đoạn này, người thợ phủ một lớp hoàng liên và cuối cùng phết lên mặt giấy một lớp keo mỏng để chống ẩm, chống mối mọt.

giay do tran tro chuyen bao ton hinh 2

Một số sản phẩm của Zó Project.

Theo ông Nguyễn Văn Luyện - Phó Giám đốc Ban Quản lý di tích tỉnh Bắc Ninh, các công cụ sản xuất giấy dó hầu như bằng tre, gỗ và giấy phơi hoàn toàn tự nhiên. Giấy dó sản xuất theo quy trình này không có độ a-xít nên tờ giấy có tuổi thọ rất cao, lên tới 500 năm hoặc hơn nữa.

Ngoài ra, giấy dó còn có đặc tính xốp, nhẹ chống ẩm rất tốt. Một số bảo tàng đã dùng giấy dó để lót bồi phía sau tranh vẽ, bởi với đặc tính chống ẩm, giấy dó giúp cho các tác phẩm nghệ thuật không bị mốc.

“Chính vì có nhiều đặc tính ưu việt nên một số ngành nghề vẫn yêu cầu sử dụng giấy dó. Cũng bởi việc sản xuất thủ công, năng suất không cao nên giá thành giấy dó không rẻ, có thể lên đến vài chục nghìn, thậm chí cả vài trăm nghìn cho một tờ giấy sắc khổ lớn”, ông Luyện cho hay.

Tìm những giá trị mới cho giấy dó

Trước sự mai một của nghề làm giấy dó, việc bảo tồn những giá trị văn hóa lâu đời này đã được tỉnh Bắc Ninh tính đến. Thế nhưng đến nay hầu như chưa có hoạt động thực tế nào được triển khai.

Trần tình về việc này, ông Nguyễn Từ Vân - đại diện Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Ninh cho rằng, do đối tượng sử dụng giấy dó quá ít, thị trường tiêu thụ nhỏ hẹp dẫn đến việc lưu giữ nghề rất khó khăn. “Hiện nay, thế hệ trẻ ở Dương Ổ hầu như không còn ai theo nghề, làm nghề, việc các nghệ nhân muốn trao truyền các kỹ năng, bí quyết cũng rất khó khăn. Do vậy những bí quyết nghề cùng các kinh nghiệm dân gian dễ bị thất truyền”, ông Vân nói.

Đáng nói là việc tôn vinh nghề giấy dó cũng như những người thợ làm nghề vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Theo ông Nguyễn Văn Luyện, đối với nghề làm giấy dó, từ trước đến nay chưa từng có ai được phong nghệ nhân.

“Nghề làm giấy dó Dương Ổ đáp ứng các tiêu chí di sản văn hóa phi vật thể nghề thủ công truyền thống theo Thông tư 04 của Bộ Văn hóa nhưng đến nay việc làm hồ sơ công nhận vẫn chưa thể thực hiện. Vì việc công nhận nghề thủ công truyền thống thuộc phạm vi quản lý của ngành Công Thương”, ông Luyện giãi bày.

Tuy nhiên, không phải tất cả các con đường đều bi quan. Nhận thấy vấn đề căn cốt của việc bảo tồn chính là cần phải mở rộng thị trường tiêu thụ và tạo ra những ứng dụng mới cho giấy dó, một số bạn trẻ đã mạnh dạn “làm mới” cho sản phẩm truyền thống này. Trong số đó phải kể đến Zó Project - một doanh nghiệp xã hội được thành lập bởi chị Trần Hồng Nhung (Hà Nội).

Với mong muốn gìn giữ nghề giấy dó truyền thống, Trần Hồng Nhung đã tìm về các làng nghề giấy dó để thuyết phục các nghệ nhân không rời bỏ giấy dó. Kết quả, ngoài Dương Ổ, Trần Hồng Nhung còn góp phần phục hồi nghề làm giấy dó ở Suối Cỏ (Lương Sơn, Hòa Bình).

Với việc tạo ra sản phẩm phù hợp với phương thức kinh doanh, Zó Project mang lại cái nhìn mới mẻ hơn bằng cách đưa giấy dó vào những sản phẩm hiện đại, mang tính ứng dụng cao thay vì chỉ dùng để vẽ tranh hay viết chữ Nho như trước đây. Các sản phẩm của Zó Project đa dạng và hữu dụng như giấy vẽ, sổ tay, bưu ảnh, bưu thiếp, lịch bàn, phụ kiện trang sức…

Đồng thời, nó mang đậm vẻ đẹp văn hóa truyền thống với hình ảnh tranh Đông Hồ, cây đa, bến nước, sân đình… cho tới những chủ đề đương đại như phố cổ Hà Nội, áo dài, bìa những cuốn album âm nhạc của các nghệ sĩ nổi tiếng thế giới… Zó Project có những sản phẩm độc đáo, được bày bán tại những trung tâm du lịch trong phố cổ Hà Nội, Đà Nẵng, Hội An, Phú Quốc… và tiếp cận các thị trường Úc, Pháp, Ý…

giay do tran tro chuyen bao ton hinh 3

Ngô Thu Huyền (áo trắng, giữa) tham gia một sự kiện chia sẻ những kiến thức về giấy dó.

Ngoài Zó Project, gần đây nhiều họa sĩ trẻ đã nhắc đến thương hiệu giấy dó Ngô Đức. Người sở hữu thương hiệu này là Ngô Thu Huyền, một bạn trẻ sinh năm 1991. Huyền chính là cháu nội của cụ Ngô Đức Điều - người làm giấy có tiếng ở làng Đống Cao.

Là người làng nghề, Huyền tiếp xúc với giấy dó từ khi còn rất nhỏ. Tốt nghiệp đại học, Huyền ở lại thành phố và bắt đầu cuộc sống công sở. Nhưng rồi bằng tình yêu nghề truyền thống và nỗi lo nghề quý của quê hương mai một, Huyền đã trở về để tiếp tục công việc mà người ông để lại.

Kế thừa nền tảng của gia đình, dòng họ, Huyền đã có những sáng tạo, để giấy dó thích ứng với cuộc sống hiện đại. Giấy dó của Huyền có nhiều kích cỡ, màu sắc giấy khác nhau, đáp ứng yêu cầu đa dạng của khách hàng như giấy có họa tiết, hoa lá dùng để in danh thiếp, thiệp mừng, phong bì, đèn lồng, gấp giấy nghệ thuật... Huyền cũng đã sản xuất thành công dòng giấy dó phục vụ thư pháp hiện đại (calligraphy) và vẽ mầu nước.

“Người xưa làm giấy để vẽ tranh, viết thư pháp, còn tôi làm giấy dó để viết calligraphy và vẽ màu nước. Thế hệ ông bà tôi không có mạng xã hội và các trang thương mại điện tử để quảng bá, đến đời tôi thì đã có thể giới thiệu sản phẩm trên Facebook và tham gia các hội chợ hàng thủ công… tôi nghĩ đó chính là cơ hội mà cuộc sống hiện đại mang lại cho sản phẩm truyền thống”.

Huyền cho biết thêm, những giá trị truyền thống dần mai một nhưng đã có một thế hệ trẻ tiếp nối, áp dụng những kiến thức, những sáng tạo trong đời sống hiện đại vào những giá trị truyền thống đó thì có thể đưa những giá trị đó quay trở lại với đời sống, từ đó có thể bảo tồn, gìn giữ lâu bền hơn.

Thế Vũ

Xem thêm

Nguyễn Khắc Phê và “Quảng Trị, vùng đất hội tụ”

Nguyễn Khắc Phê và “Quảng Trị, vùng đất hội tụ”

(NB&CL) Giữa tháng 5 năm 2026, tôi tìm trên giá sách riêng, tập hợp được hơn chục tác phẩm của nhà văn, nhà báo Nguyễn Khắc Phê. Cuốn sách xuất bản gần đây nhất in 1500 bản của ông ra mắt đầu năm 2026 có tựa đề “Quảng Trị - Vùng đất hội tụ” (Nhà Xuất bản Hội Nhà văn).

Cần những “bà đỡ” từ dòng vốn doanh nghiệp

Cần những “bà đỡ” từ dòng vốn doanh nghiệp

(NB&CL) Để bảo tàng tư nhân “sống sót” và hoạt động chuyên nghiệp là câu chuyện hoàn toàn không đơn giản. Thực tế tại Việt Nam, không hiếm chuyện chủ nhân bảo tàng rơi vào cảnh “vừa làm chủ, vừa làm nhân viên” vì nguồn lực tài chính hạn hẹp. Theo PGS.TS. Nguyễn Văn Huy (nguyên Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, người sáng lập Bảo tàng Nguyễn Văn Huyên), Nhà nước cần có chính sách để thu hút các nguồn lực tài trợ cho hoạt động bảo tàng, từ đó tạo điểm tựa vững chắc cho các bảo tàng tư nhân phát triển bền vững.

Bảo tàng tư nhân góp phần đa dạng văn hóa theo tiêu chí UNESCO

Bảo tàng tư nhân góp phần đa dạng văn hóa theo tiêu chí UNESCO

(NB&CL) Với việc trưng bày các hiện vật đến từ nhiều nền văn hóa, nhiều bảo tàng tư nhân đang thực hiện tiêu chí và thông điệp cốt lõi của UNESCO là góp phần thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau và gắn kết giữa các dân tộc, xóa bỏ sự ngăn cách và tệ nạn phân biệt đối xử về văn hóa, tôn vinh các giá trị nhân văn, nhân đạo giữa các dân tộc.

Khôi phục thể thức hai vòng đấu tại Lễ hội chọi trâu truyền thống Đồ Sơn năm 2026

Khôi phục thể thức hai vòng đấu tại Lễ hội chọi trâu truyền thống Đồ Sơn năm 2026

(CLO)- Ban tổ chức Lễ hội chọi trâu truyền thống Đồ Sơn năm 2026 vừa chính thức ban hành quy chế sửa đổi với hàng loạt điều chỉnh quan trọng. Việc khôi phục trọn vẹn thể thức hai vòng đấu sau nhiều năm gián đoạn cùng những thay đổi bước ngoặt trong luật phân định thắng thua là những điểm mới cốt lõi nhằm nâng cao tính minh bạch và chất lượng chuyên môn cho di sản văn hóa phi vật thể quốc gia này.

Vì sao thanh niên Khmer phải vào chùa tu trước khi trưởng thành?

Vì sao thanh niên Khmer phải vào chùa tu trước khi trưởng thành?

(CLO) Với người Khmer Nam Bộ, việc vào chùa tu học không đơn thuần là thực hành tín ngưỡng mà còn là cách báo hiếu cha mẹ, rèn luyện đạo đức và đánh dấu bước trưởng thành của một người đàn ông trước khi bước vào cuộc sống gia đình, xã hội.

Kết nối làng nghề và sáng tạo để đánh thức nguồn lực di sản

Kết nối làng nghề và sáng tạo để đánh thức nguồn lực di sản

(CLO) Chương trình Phát triển thủ công đương đại trên nền tảng Di sản làng nghề trong khuôn khổ Lễ hội Thiết kế Sáng tạo Hà Nội 2026 được khởi động với mục tiêu xây dựng hệ sinh thái kết nối giữa nghệ nhân, nhà thiết kế, doanh nghiệp và các cơ sở đào tạo, góp phần đưa nguồn lực di sản trở thành động lực cho sáng tạo và phát triển bền vững.

VTV lần đầu thực hiện truyền hình trực tiếp về thiên nhiên hoang dã

VTV lần đầu thực hiện truyền hình trực tiếp về thiên nhiên hoang dã

(CLO) Lần đầu tiên, Đài Truyền hình Việt Nam (VTV) triển khai dự án truyền hình trực tiếp về thiên nhiên hoang dã mang tên “Vietnam Wild Live - Kết nối thiên nhiên, lan tỏa nhận thức”, đưa những hình ảnh chân thực của hệ sinh thái tự nhiên đến với khán giả trong và ngoài nước.

Cỡ chữ bài viết: