'Họ và Tên' - cuốn sách kể chuyện danh tính người Việt

(CLO) Ngày 15/1 tại Hà Nội, nhà nghiên cứu Trần Quang Đức đã chính thức ra mắt công chúng cuốn sách "Họ và Tên: Một lịch sử nhìn từ danh tính người Việt", do Nhà xuất bản Thế Giới và Nhã Nam phát hành.

Đây là cuốn sách thứ ba của Trần Quang Đức, sau “Ngàn năm áo mũ” và “Chuyện Trà”. “Họ và Tên” là một khảo cứu công phu, có hệ thống, với sử liệu vững chắc và phong phú để đi tới những kiến giải sâu sắc: mỗi cái tên không chỉ là ký hiệu, nó là một “lát cắt” của tâm tưởng, là nơi quá khứ và hiện tại không ngừng đối thoại với nhau. Đằng sau vài ba chữ ngắn ngủi trên tờ giấy khai sinh của ta, là cả một dòng chảy lịch sử, ghi dấu cảm xúc, ước vọng, suy tư của con người.

“Họ và Tên: Một lịch sử nhìn từ danh tính người Việt” là cuốn sách tập trung khám phá nguồn gốc, ý nghĩa văn hóa và lịch sử biến chuyển của cách đặt tên người Việt qua các thời kỳ, kể và làm rõ những câu chuyện thú vị về phong tục, tư duy xã hội và sự khác biệt trong cách định danh giữa các triều đại xưa so với xu hướng hiện đại.

Ảnh màn hình 2026-01-15 lúc 15.00.46
Cuốn sách “Họ và Tên: Một lịch sử nhìn từ danh tính người Việt” của tác giả Trần Quang Đức.

Theo tác giả Trần Quang Đức, từ thuở sơ khai, cái tên gắn liền với khát vọng sinh tồn. Ngày xưa người Việt cho rằng trẻ ốm đau thường là do ma làm, bởi vậy họ đặt cho con những cái tên xấu xí như Cóc, Chuột, Chồn, Chấy…, tin rằng ma quỷ sẽ tránh bắt những đứa trẻ tên xấu, để chúng có thể lớn lên bình an. Rồi khi xã hội ổn định hơn, tri thức lan rộng, cùng với sự du nhập của chữ Hán, tên gọi bắt đầu khoác lên mình vẻ thanh nhã hoặc có tính biểu tượng.

Những quan niệm về cái tên “đúng mực”, “cao quý” hay “thanh tao” dần được định hình, mang dấu ấn gia tộc, mang dấu ấn của Phật giáo, Đạo giáo và đặc biệt là Nho giáo. Tên gọi của người Việt, từ chỗ là các tên đơn mộc mạc, dần phát triển thành tên đi cùng với họ, rồi thành tên có đệm, vừa thể hiện dòng dõi gia tộc mà cá nhân thuộc về, vừa mang khát vọng về công danh thành tựu, lại vừa thể hiện sự sang trọng thanh cao.

Tới thế kỷ XVI, người Việt ưa dùng tên bộ Ngọc, đệm Ngọc, điều này diễn ra ở cả Đàng Trong và Đàng Ngoài, từ cung đình tới dân gian, gắn liền với sự trỗi dậy của lòng tự tôn cùng nhu cầu mỹ hóa căn cước. Từ đó, “Ngọc hóa” danh tính đã trở thành xu hướng đặt tên nổi bật, trải dài qua hai triều đại Lê, Nguyễn và tiếp tục gây ảnh hưởng ngầm tới mãi về sau này.

Ảnh màn hình 2026-01-15 lúc 15.01.25
Tác giả Trần Quang Đức (giữa) chia sẻ về cuốn sách “Họ và Tên: Một lịch sử nhìn từ danh tính người Việt”.

Cái tên từ đó không còn là chuyện riêng của mỗi gia đình, mà trở thành biểu tượng của quyền lực và trật tự xã hội. Các triều đại vua chúa đã sử dụng tên gọi như một cách thức để tuyên bố và duy trì vị thế. Chế độ “kỵ húy” - kiêng dùng chữ trùng với tên vua, hay việc ban “quốc tính”(họ của vua) cho một nhân vật có công, đều giúp thiêng hóa và bảo vệ vương quyền.

Bên cạnh đó, cái tên cũng là câu chuyện về con người cá nhân: tên gọi được dụng công để khẳng định “tôi là ai”. Các văn nhân, học giả dùng “tự”, “hiệu” để gửi gắm lý tưởng sống hay những thăng trầm của cuộc đời. Như Nguyễn Du lấy tên chữ của mình là Tố Như, hay nhà cách mạng Phan Bội Châu thay tên đổi họ liên tục - khi để bộc lộ chí hướng, suy tư trên mỗi chặng đường đời.

Tác giả cũng cho biết, tên gọi của phụ nữ Việt thế kỷ XX cũng là một câu chuyện rất đặc biệt. Từ chỗ hầu như ai cũng được gọi bằng họ cộng với chữ “Thị” - tên đơn, như một dấu vết cho xã hội phụ quyền, vị thế của phụ nữ dần được nhận thức rõ ràng và do đó họ được mang những mô hình tên kép hiện đại hơn.

Ảnh màn hình 2026-01-15 lúc 15.02.21
Nguồn gốc về họ và tên của người Việt được tác giả Trần Quang Đức chia sẻ trong cuốn sách.

Cuối cùng, cuốn sách cũng đi tới một nhận định quan trọng: Họ và Tên là một cấu trúc tưởng tượng tập thể. Ta sinh ra với cái tên như một sự đã rồi, nó cho biết ta thuộc về đâu đó, nhưng mặt khác ta cũng hiểu rằng họ tộc là một khung hư cấu được duy trì để phục vụ sự gắn kết và quản trị. Hiểu biết này không phải để phủ nhận truyền thống, phá hủy kết nối, mà để ta bớt nặng nề áp đặt, và nâng cao tinh thần nhân loại hơn.

Cuốn sách được chia thành 3 phần lần lượt theo sự phát triển của tên gọi qua các thời kỳ lịch sử ở nước ta. Ở phần đầu tiên “Mộc mạc tới cầu kỳ”nói về cách đặt tên của ông cha ta từ thời xa xưa. Cách đặt tên có sự dịch chuyển và phát triển, từ chỗ mộc mạc, “xấu xí” dần trở nên thanh nhã, mang tính biểu tượng hơn, hoặc “cao quý”, “thanh tao” hơn theo sự ổn định dần của đời sống và sự lan rộng của tri thức.

Ảnh màn hình 2026-01-15 lúc 15.03.02
Quang cảnh buổi lễ ra mắt sách.

Phần hai của sách, “Mưu toan quyền lực”, tập trung vào giai đoạn các triều đại người Việt nắm quyền cai trị - thời kỳ mà tên gọi trở thành biểu tượng và công cụ của quyền lực và uy tín.

Chủ đề của phần ba là “Hướng tới tự do”, nơi tên gọi trở thành cách để con người khẳng định “tôi là ai”.

Qua đó, tác giả muốn cho người đọc một cái nhìn khác, cẩn trọng và đầy suy ngẫm về những cái tên ta vẫn gặp hàng ngày, ở khắp mọi nơi. Cuốn sách này cho thấy tên gọi của chúng ta có thể mở ra một thế giới rộng lớn hơn, có thể bảo vệ, tổ chức, thuyết phục, và đôi khi là giải phóng con người, và lịch sử Việt Nam cũng đã đổi thay cùng với chúng.

Xem thêm

Đặc sắc Lễ hội Cầu ngư vạn chài phường Phan Thiết

Đặc sắc Lễ hội Cầu ngư vạn chài phường Phan Thiết

(CLO) Tối 1/8 (tức ngày 19/6 âm lịch), Lễ hội Cầu ngư các vạn chài Phan Thiết năm 2026 chính thức khai mạc với nhiều hoạt động văn hóa đặc sắc, mở đầu chuỗi sự kiện tôn vinh di sản văn hóa biển và quảng bá hình ảnh du lịch địa phương.

‘Như chưa hề có cuộc chia ly’ nối lại cuộc đoàn tụ sau 69 năm thất lạc

‘Như chưa hề có cuộc chia ly’ nối lại cuộc đoàn tụ sau 69 năm thất lạc

(CLO) Sau gần bảy thập kỷ lưu lạc vì bị bắt cóc khi mới 4 tuổi, bà Phạm Thị Vân (tên thật Phạm Thị Vinh) cuối cùng đã tìm lại được gia đình ruột trong tập 203 chương trình “Như chưa hề có cuộc chia ly”. Cuộc đoàn tụ xúc động đã khép lại hành trình tìm kiếm tưởng như vô vọng kéo dài suốt 69 năm.

Kỷ niệm 300 năm Ngày sinh nhà bác học Lê Quý Đôn, lan tỏa giá trị tri thức Việt

Kỷ niệm 300 năm Ngày sinh nhà bác học Lê Quý Đôn, lan tỏa giá trị tri thức Việt

(CLO) Tối 31/7, tại Khu lưu niệm Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn (xã Lê Quý Đôn, tỉnh Hưng Yên), Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam phối hợp với tỉnh Hưng Yên tổ chức Lễ kỷ niệm cấp quốc gia 300 năm Ngày sinh Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn (1726-2026).

Lần đầu tiên Hội An tổ chức lễ hội đèn lồng

Lần đầu tiên Hội An tổ chức lễ hội đèn lồng

(CLO) UBND TP. Đà Nẵng vừa ban hành kế hoạch tổ chức Lễ hội đèn lồng quốc tế Hội An 2026 với chủ đề "Hội An - Sắc màu di sản", đánh dấu lần đầu tiên Hội An có một lễ hội đèn lồng mang tầm quốc tế nhằm quảng bá giá trị văn hóa, nghề thủ công truyền thống và tăng sức hút du lịch.

Làng Văn hóa tổ chức chuỗi hoạt động tôn vinh văn hóa Khmer

Làng Văn hóa tổ chức chuỗi hoạt động tôn vinh văn hóa Khmer

(CLO) Trong tháng 8/2026, Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam sẽ tổ chức chuỗi hoạt động với chủ đề "Về miền Tây qua nét văn hóa của đồng bào Khmer", mang đến không gian trải nghiệm đậm bản sắc văn hóa Nam Bộ cùng nhiều chương trình nghệ thuật, tái hiện lễ hội và hoạt động giao lưu hấp dẫn.

‘Rạng rỡ Văn hiến Việt Nam’ tái hiện cuộc đời Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn

‘Rạng rỡ Văn hiến Việt Nam’ tái hiện cuộc đời Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn

(CLO) Lễ kỷ niệm 300 năm Ngày sinh Danh nhân văn hóa, nhà bác học kiệt xuất Lê Quý Đôn sẽ diễn ra tối 31/7 tại Hưng Yên. Điểm nhấn của sự kiện là lễ trao Nghị quyết của UNESCO vinh danh Lê Quý Đôn và chương trình nghệ thuật đặc biệt "Rạng rỡ Văn hiến Việt Nam", truyền hình trực tiếp trên VTV1.

Chương trình nghệ thuật đặc biệt được dàn dựng công phu dự kiến diễn ra trong tháng 8 hoặc tháng 9/2026.

Quảng Ninh sẵn sàng bùng nổ với tuần lễ du lịch và đại nhạc hội

(CLO) Tâm điểm rực rỡ nhất trong toàn bộ chuỗi hoạt động hướng tới dấu mốc lịch sử của vùng đất mỏ trong tháng 8 và tháng 9 tới đây chính là đại nhạc hội đặc biệt và tuần lễ vàng kích cầu du lịch, hứa hẹn biến toàn bộ không gian Quảng Ninh thành một chuỗi ngày hội văn hóa đa sắc màu.

Người trẻ có thể trở thành ‘đại sứ văn hóa’ trên không gian số

Người trẻ có thể trở thành ‘đại sứ văn hóa’ trên không gian số

(CLO) Mạng xã hội đang mở ra cơ hội chưa từng có để văn hóa truyền thống đến gần hơn với công chúng, đặc biệt là giới trẻ. Tuy nhiên, theo Nghệ nhân Ưu tú Nguyễn Tấn Phát (nghệ nhân sơn mài, làng cổ Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Nội), bên cạnh sự sáng tạo, người làm nội dung cần đặt tính chân thực và sự tôn trọng di sản lên hàng đầu, bởi chỉ khi hiểu đúng thì mới có thể lan tỏa đúng.

Từ “sơn mài trắng” đến “sơn mài tổng hợp”: Hành trình “làm mới” chất liệu của họa sĩ Lê Văn Thìn

Từ “sơn mài trắng” đến “sơn mài tổng hợp”: Hành trình “làm mới” chất liệu của họa sĩ Lê Văn Thìn

(NB&CL) Gần nửa thế kỷ sáng tạo, họa sĩ Lê Văn Thìn đưa đến những thử nghiệm nghệ thuật táo bạo từ “sơn mài trắng” đến triết lý “vẽ bằng búa”. Đó là hành trình không ngừng tìm kiếm ngôn ngữ tạo hình mới, đồng thời mở rộng giới hạn biểu đạt của chất liệu sơn mài Việt Nam.

Cỡ chữ bài viết: