Theo Thông tư số 92 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, lộ trình áp dụng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải xe môtô, xe gắn máy tham gia giao thông đường bộ thực hiện theo quy định của Thủ tướng Chính phủ.
Quy chuẩn này quy định giá trị giới hạn các thông số khí thải của xe mô tô, xe gắn máy lắp động cơ cháy cưỡng bức tham gia giao thông đường bộ, bao gồm Cacbon Monoxit (CO), Hydrocacbon (HC).
Đối tượng áp dụng là các cơ quan, tổ chức, cá nhân sử dụng xe mô tô, xe gắn máy tham gia giao thông đường bộ; tổ chức, cá nhân thực hiện việc kiểm định khí thải xe môtô, xe gắn máy tham gia giao thông đường bộ và các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan.
Riêng với các loại xe môtô, xe gắn máy thuộc phạm vi quản lý của Bộ Quốc phòng và Bộ Công an, quy chuẩn này không áp dụng.
Giá trị giới hạn tối đa cho phép của các thông số CO, HC trong khí thải xe mô tô, xe gắn máy tham gia giao thông đường bộ, được quy định tại Mục 2 (Quy định kỹ thuật) Quy chuẩn này, bao gồm mức 1, mức 2, mức 3 và mức 4.
Về quy định quản lý, việc kiểm định khí thải mô tô, xe gắn máy phải được thực hiện bởi cơ sở kiểm định khí thải được chứng nhận đủ điều kiện kiểm định theo quy định của pháp luật về trật tự, an toàn giao thông đường bộ.
Thiết bị đo khí thải xe môtô, xe gắn máy phải đáp ứng yêu cầu kỹ thuật quy định tại QCVN 103:2024/BGTVT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về cơ sở vật chất kỹ thuật và vị trí cơ sở đăng kiểm xe cơ giới, cơ sở kiểm định khí thải xe mô tô, xe gắn máy ban hành kèm theo Thông tư số 50/2024/TT-BGTVT ngày 15/11/2024 của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải (nay là Bộ Xây dựng), quy định pháp luật về đo lường và các quy định pháp luật có liên quan khác.
Thống kê của Cục Đăng kiểm Việt Nam (Bộ Xây dựng) cho thấy cả nước hiện có hơn 70 triệu mô tô và xe máy đang lưu hành. Ước tính, cả nước cần khoảng 5.000 cơ sở đủ điều kiện để kiểm định khí thải xe máy.