Hợp tác bảo tồn di sản kéo co cần hướng vào thực chất và sự phát triển

(NB&CL) Đề xuất giải pháp bảo vệ và phát huy giá trị di sản kéo co, nhiều chuyên gia khuyến cáo, cần dựa vào sức mạnh cộng đồng, biến di sản truyền thống thành tài nguyên du lịch, trong đó một phần lợi nhuận được tái đầu tư cho việc giáo dục người kế thừa và phát triển cơ sở văn hóa địa phương.

Kéo co - sợi dây kết nối các cộng đồng

Tròn 10 năm trước, ngày 2/12/2015, tại phiên họp của Ủy ban Liên Chính phủ về Bảo vệ Di sản Văn hóa phi vật thể của UNESCO ở Namibia, nghi lễ và trò chơi kéo co của Việt Nam, Campuchia, Hàn Quốc và Philippines đã chính thức được ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Sự kiện này không chỉ là niềm tự hào chung mà còn là nguồn động lực to lớn cho các cộng đồng thực hành di sản.

2.jpeg
1.jpeg
Cộng đồng kéo co làng Ngọc Trì trình diễn kéo co ngồi tại đền Trấn Vũ, nhân kỷ niệm 10 năm Nghi lễ và trò chơi kéo co được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa của nhân loại, ngày 16/11/2025.

Theo ông Nguyễn Đức Tăng, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Phát huy giá trị di sản văn hóa (Hội Di sản Văn hóa Việt Nam), nghi lễ và trò chơi kéo co là một thực hành văn hóa lâu đời, có ở nhiều quốc gia trên thế giới. Ở châu Á, đặc biệt tại các vùng đất nông nghiệp trù phú thuộc Đông Bắc và Đông Nam Á, kéo co không chỉ là trò chơi dân gian quen thuộc mà còn là nghi lễ gắn liền với tín ngưỡng cầu mùa của cư dân trồng lúa nước. Vào mùa xuân, khi vụ mùa mới bắt đầu, người dân thường tổ chức kéo co như một nghi lễ và cũng là hoạt động hội hè. Trò chơi này thể hiện ước vọng mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu và cuộc sống ấm no.

Cùng mang chung tinh thần ấy, nhưng nghi lễ và trò chơi kéo co ở mỗi quốc gia lại có những sắc thái riêng, thể hiện sự đa dạng của văn hóa và môi trường tự nhiên. Tại Hàn Quốc, các nghi lễ và trò chơi kéo co gọi chung là “juldarigi”, được thực hành ở nhiều vùng miền và truyền lại qua hàng trăm năm nay. Ở Philippines, người dân Ifugao gọi kéo co là “punnuk”, đánh dấu thời điểm kết thúc và khởi đầu một chu kỳ trồng trọt tại các cộng đồng tỉnh Ifugao. Tại Campuchia, kéo co được biết đến với tên “Lbaeng teanh prot”, tồn tại từ thời xa xưa, được miêu tả lại trên các phù điêu ở đền Angkor Wat.

Tại Việt Nam, nghi lễ và trò chơi và kéo co tập trung hầu hết ở các cộng đồng người Việt ở đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ và các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc như người Tày, Thái, Giáy. Các hình thức và quy tắc kéo co ở Việt Nam rất đa dạng tùy theo vùng miền và dân tộc. Dây kéo co có nhiều loại như dây song, mây, dây cây rừng hoặc cây tre. Tên gọi di sản do vậy cũng rất phong phú, như “kéo co” ở Hữu Chấp, “kéo co ngồi” ở Thạch Bàn, “kéo mỏ” ở Xuân Lai và Ngải Khê, “kéo song” ở Hương Canh, “nhanh vai” của người Tày, “so vai” của dân tộc Giáy hay “na bai” của dân tộc Thái.

Trải qua hàng trăm năm, nghi lễ và trò chơi kéo co vẫn bền bỉ tồn tại, trở thành sợi dây kết nối giữa các cộng đồng. Hơn cả một trò chơi, kéo co là biểu tượng của niềm vui, niềm tin và sự gắn kết, nơi con người tìm thấy sức mạnh tập thể và tinh thần hòa hợp với thiên nhiên.

3.jpeg
Kéo co không chỉ là một nghi lễ, mà còn là một trò chơi, kết nối con người, đề cao tinh thần đoàn kết, sức mạnh cộng đồng.

Tại Hội thảo quốc tế “Một thập kỷ bảo vệ và phát huy nghi lễ và trò chơi kéo co” vừa diễn ra tại Hà Nội, các đại biểu đều cho rằng, sau 10 năm được ghi danh, di sản được tổ chức thực hành, giới thiệu, quảng bá thường xuyên. Đặc biệt, từ chỗ chỉ có 6 cộng đồng được đưa vào hồ sơ UNESCO ghi danh năm 2015, đến nay, Việt Nam đã nhận diện thêm 4 cộng đồng mới đang thực hành nghi lễ và trò chơi kéo co, góp phần làm phong phú thêm bức tranh di sản quốc gia.

Theo TS. Lê Thị Minh Lý, Phó Chủ tịch Hội Di sản văn hóa Việt Nam, kết quả bảo vệ và phát huy di sản kéo co rất ấn tượng, đây có thể coi như một trong những bài học thành công của việc bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể với sự tham gia hiểu biết và tự chủ của cộng đồng.

Thách thức bảo vệ kéo co như một di sản sống

Tuy nhiên, cộng đồng kéo co cũng đang phải đối mặt với những thách thức do quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa và già hóa các cộng đồng nắm giữ di sản. Theo một khảo sát của Trung tâm Nghiên cứu và Phát huy giá trị di sản văn hóa, sự thay đổi về không gian thực hành ở một số cộng đồng kéo co như Xuân Lai hay Thạch Bàn gây ra rủi ro đáng kể cho việc tiếp tục thực hành các nghi lễ tại không gian truyền thống. Một số cộng đồng kéo co có tục lệ chỉ có nam nữ thanh niên chưa kết hôn mới được tham gia nên khó khăn về nguồn nhân lực… Theo ông Nguyễn Đức Tăng, cho đến nay, chỉ có 1 người thực hành di sản kéo co được công nhận là nghệ nhân ưu tú nhưng cũng đã mất. “So với các di sản văn hóa khác, con số này quá khiêm tốn”, ông Tăng nói.

4.jpeg
Trai tráng thôn Xuân Lai (xã Đa Phúc, Hà Nội) hào hứng ra sân thi đấu.

Những vấn đề nói trên không phải là câu chuyện của riêng Việt Nam mà là thực trạng đang diễn ra ở cả 4 quốc gia có di sản đang được thực hành. Ông Park Woenmo, chuyên gia di sản văn hoá phi vật thể Châu Á - Thái Bình Dương cho rằng, quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa đã làm thay đổi đáng kể điều kiện tồn tại của kéo co. Sự già hóa lực lượng truyền dạy, việc thanh niên rời làng, không gian tổ chức thu hẹp, các quy định an toàn được siết chặt, cùng với việc đơn giản hóa hoặc lược bỏ các nghi lễ nông nghiệp… đều trở thành rào cản trong việc bảo vệ kéo co như một di sản sống.

Trong khi đó, bà Chey Chankethya, đại diện cộng đồng kéo co của Campuchia chia sẻ về sự suy giảm của các nguồn nguyên liệu tự nhiên dùng để làm dây kéo do nạn phá rừng, suy thoái môi trường và việc giảm sử dụng đồ thủ công truyền thống. Theo bà, trước đây, dây kéo được làm từ sợi tự nhiên như gai dầu, mây, hoặc các loại thực vật địa phương, có giá trị về độ bền và liên kết biểu tượng với thiên nhiên. Việc cộng đồng sử dụng ngày càng nhiều dây tổng hợp vì tiện lợi, nhưng điều này có nguy cơ làm trò chơi mất đi gốc rễ tự nhiên và văn hóa.

Sáng tạo tương lai thay vì tái hiện truyền thống

Cho rằng trong tương lai, Việt Nam, Campuchia, Philippines… đều sẽ phải đối mặt với những thách thức lớn, ông Ko Daeyoung, Giám đốc Bảo tàng kéo co Gijisi bày tỏ, các dự án giao lưu quốc tế hiện nay không nên chỉ dừng lại ở việc thăm viếng và giao lưu cơ bản mà cần mở rộng sang các chủ đề và nhiệm vụ cụ thể như chế tác dây, nghi lễ, kỹ thuật kéo co, phát triển và vận hành chương trình giáo dục, truyền dạy...

5.jpg
Một màn tranh đua của đội kéo song xã Bình Nguyên, Phú Thọ.

Đề xuất phát triển bền vững du lịch và lễ hội dựa trên cộng đồng địa phương, ông Kwon Huh, Giám đốc điều hành tổ chức Culture Co-existence Diversity LINK, nguyên Tổng Giám đốc Trung tâm thông tin và mạng lưới quốc tế về di sản văn hóa phi vật thể khu vực châu Á - Thái Bình Dương nhận định, hoạt động truyền dạy nếu tách rời khỏi sinh kế sẽ khó có thể duy trì lâu dài. Vì vậy, ông đề xuất liên kết trò chơi kéo co với lễ hội, du lịch trải nghiệm, sản phẩm văn hóa; áp dụng giáo dục trải nghiệm cho trường học và thanh thiếu niên. Đồng thời, ông gợi ý có thể chuyển đổi sang mô hình “Hợp tác xã văn hóa cộng đồng”, trong đó một phần lợi nhuận được tái đầu tư cho việc giáo dục người kế thừa và phát triển cơ sở văn hóa địa phương.

Ông Huh kỳ vọng, kỷ niệm 10 năm cùng ghi danh di sản kéo co không chỉ là một lễ kỷ niệm đơn thuần, mà còn nên được nhìn nhận như một khởi đầu mới, tạo ra mô hình hợp tác văn hóa quốc tế dựa trên cộng đồng. “Lấy kéo co làm nguyên bản, nhưng kết hợp nhiều hình thức nghệ thuật dân gian và sáng tạo hiện đại trong lễ hội tổng hợp sẽ trở thành bước đi biểu tượng từ truyền thống quá khứ đến sự chung sống trong tương lai. Hy vọng lễ hội quốc tế kéo co sẽ phát triển thành sân chơi thể hiện hợp tác thay vì cạnh tranh, bền vững thay vì kỷ niệm, sáng tạo tương lai thay vì tái hiện truyền thống, và có tiềm năng trở thành mô hình bảo vệ di sản phi vật thể hợp tác xuất sắc của UNESCO”, ông Kwon Huh chia sẻ.

Xem thêm

Kỷ niệm 300 năm Ngày sinh nhà bác học Lê Quý Đôn, lan tỏa giá trị tri thức Việt

Kỷ niệm 300 năm Ngày sinh nhà bác học Lê Quý Đôn, lan tỏa giá trị tri thức Việt

(CLO) Tối 31/7, tại Khu lưu niệm Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn (xã Lê Quý Đôn, tỉnh Hưng Yên), Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam phối hợp với tỉnh Hưng Yên tổ chức Lễ kỷ niệm cấp quốc gia 300 năm Ngày sinh Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn (1726-2026).

Lần đầu tiên Hội An tổ chức lễ hội đèn lồng

Lần đầu tiên Hội An tổ chức lễ hội đèn lồng

(CLO) UBND TP. Đà Nẵng vừa ban hành kế hoạch tổ chức Lễ hội đèn lồng quốc tế Hội An 2026 với chủ đề "Hội An - Sắc màu di sản", đánh dấu lần đầu tiên Hội An có một lễ hội đèn lồng mang tầm quốc tế nhằm quảng bá giá trị văn hóa, nghề thủ công truyền thống và tăng sức hút du lịch.

Làng Văn hóa tổ chức chuỗi hoạt động tôn vinh văn hóa Khmer

Làng Văn hóa tổ chức chuỗi hoạt động tôn vinh văn hóa Khmer

(CLO) Trong tháng 8/2026, Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam sẽ tổ chức chuỗi hoạt động với chủ đề "Về miền Tây qua nét văn hóa của đồng bào Khmer", mang đến không gian trải nghiệm đậm bản sắc văn hóa Nam Bộ cùng nhiều chương trình nghệ thuật, tái hiện lễ hội và hoạt động giao lưu hấp dẫn.

‘Rạng rỡ Văn hiến Việt Nam’ tái hiện cuộc đời Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn

‘Rạng rỡ Văn hiến Việt Nam’ tái hiện cuộc đời Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn

(CLO) Lễ kỷ niệm 300 năm Ngày sinh Danh nhân văn hóa, nhà bác học kiệt xuất Lê Quý Đôn sẽ diễn ra tối 31/7 tại Hưng Yên. Điểm nhấn của sự kiện là lễ trao Nghị quyết của UNESCO vinh danh Lê Quý Đôn và chương trình nghệ thuật đặc biệt "Rạng rỡ Văn hiến Việt Nam", truyền hình trực tiếp trên VTV1.

Chương trình nghệ thuật đặc biệt được dàn dựng công phu dự kiến diễn ra trong tháng 8 hoặc tháng 9/2026.

Quảng Ninh sẵn sàng bùng nổ với tuần lễ du lịch và đại nhạc hội

(CLO) Tâm điểm rực rỡ nhất trong toàn bộ chuỗi hoạt động hướng tới dấu mốc lịch sử của vùng đất mỏ trong tháng 8 và tháng 9 tới đây chính là đại nhạc hội đặc biệt và tuần lễ vàng kích cầu du lịch, hứa hẹn biến toàn bộ không gian Quảng Ninh thành một chuỗi ngày hội văn hóa đa sắc màu.

Người trẻ có thể trở thành ‘đại sứ văn hóa’ trên không gian số

Người trẻ có thể trở thành ‘đại sứ văn hóa’ trên không gian số

(CLO) Mạng xã hội đang mở ra cơ hội chưa từng có để văn hóa truyền thống đến gần hơn với công chúng, đặc biệt là giới trẻ. Tuy nhiên, theo Nghệ nhân Ưu tú Nguyễn Tấn Phát (nghệ nhân sơn mài, làng cổ Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Nội), bên cạnh sự sáng tạo, người làm nội dung cần đặt tính chân thực và sự tôn trọng di sản lên hàng đầu, bởi chỉ khi hiểu đúng thì mới có thể lan tỏa đúng.

Từ “sơn mài trắng” đến “sơn mài tổng hợp”: Hành trình “làm mới” chất liệu của họa sĩ Lê Văn Thìn

Từ “sơn mài trắng” đến “sơn mài tổng hợp”: Hành trình “làm mới” chất liệu của họa sĩ Lê Văn Thìn

(NB&CL) Gần nửa thế kỷ sáng tạo, họa sĩ Lê Văn Thìn đưa đến những thử nghiệm nghệ thuật táo bạo từ “sơn mài trắng” đến triết lý “vẽ bằng búa”. Đó là hành trình không ngừng tìm kiếm ngôn ngữ tạo hình mới, đồng thời mở rộng giới hạn biểu đạt của chất liệu sơn mài Việt Nam.

Sắp công diễn vở kịch thơ huyền ảo về Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương

Sắp công diễn vở kịch thơ huyền ảo về Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương

(CLO) Lấy cảm hứng từ những giai thoại văn học xoay quanh hai danh nhân Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương, vở kịch thơ huyền ảo "Nguyễn Du - Hồ Xuân Hương ngoại truyện" sẽ chính thức ra mắt công chúng từ ngày 7/8, mở ra góc nhìn mới về hai biểu tượng thi ca của dân tộc thông qua ngôn ngữ sân khấu giàu chất thơ và màu sắc huyền ảo.

Triển lãm gốm tâm linh quy mô lớn nhất Việt Nam sẽ được tổ chức trên núi Bà Đen trong tháng 8

Triển lãm gốm tâm linh quy mô lớn nhất Việt Nam sẽ được tổ chức trên núi Bà Đen trong tháng 8

Triển lãm “Kinh gốm – thanh âm thế gian” là lần đầu tiên tại Việt Nam một triển lãm gốm quy mô lớn được tổ chức trên đỉnh núi. Diễn ra từ ngày 8/8-6/9/2026, triển lãm trưng bày hơn 400 tác phẩm gốm mang cảm hứng Phật giáo được tạo tác bởi nghệ sĩ Nguyễn Tuấn và các nghệ nhân làng nghề Phù Lãng.

Cỡ chữ bài viết: