Tân nhạc Hà Nội, từ ký ức đô thị đến hệ sinh thái sáng tạo

(NB&CL) Giai đoạn 1934 - 1954 không chỉ đánh dấu sự trưởng thành của nền tân nhạc Việt Nam mà còn định hình một hệ sinh thái văn hóa đô thị độc đáo. Nhìn lại hai thập niên âm nhạc Hà Nội cũng là cách nhận diện những bài học di sản cho hành trình phát triển Thành phố Sáng tạo của Thủ đô hôm nay.

1. Hai thập niên 1934 - 1954 là một giai đoạn đặc biệt trong lịch sử âm nhạc Hà Nội, khi tân nhạc từng bước hình thành, phát triển và hòa vào nhịp chuyển mình của đời sống đô thị. Đây là chia sẻ của nhà nghiên cứu Nguyễn Trương Quý tại triển lãm “Hướng về thành phố xa xưa: Hai thập niên tân nhạc Hà Nội 1934 - 1954” vừa được tổ chức tại Hà Nội.

Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Trương Quý, nền tân nhạc Việt Nam ra đời từ giữa thập niên 1930, khi những bài hát phổ thông khởi nguồn từ trào lưu đặt lời Việt cho giai điệu Tây phương do các nhạc sĩ trẻ Hà thành sáng tác. Cùng với trào lưu Thơ mới và văn xuôi hiện đại, thưởng thức tân nhạc nhanh chóng trở thành một nếp sinh hoạt văn hóa đô thị hấp dẫn giới trẻ thời bấy giờ. “Hai thập niên 1934 - 1954 chứng kiến sự trưởng thành, để lại dấu ấn qua các ca khúc, tạo nên một âm quyển văn hóa sâu sắc trong đời sống và ký ức người Việt”.

1.jpg
Không gian triển lãm “Hướng về thành phố xa xưa: Hai thập niên tân nhạc Hà Nội 1934 - 1954”.

Dấu mốc năm 1934 được nhớ đến khi bản nhạc đầu tiên có ký hiệu nốt nhạc (solfege) do người Việt sáng tác được xuất bản là bài “Nghề Cinema” (Trần Ngọc Quang, lời Trần Ngọc Diệp), viết cho vở kịch “Kịch trường vạn tuế” năm 1934. Năm 1938, cuộc vận động tân nhạc của báo Ngày Nay tại Hà Nội đã tạo cú hích lớn cho phong trào sáng tác ca khúc phổ thông, cùng với hiệu ứng từ cuộc diễn thuyết do nhạc sĩ Nguyễn Văn Tuyên thực hiện ngày 9/6/1938.

Đáng chú ý, tân nhạc thời kỳ này không phát triển bằng cách đơn giản là thay thế âm nhạc truyền thống bằng âm nhạc phương Tây. Theo nhạc sĩ Giáng Son, những người sáng tác tân nhạc không phải tất cả đều được đào tạo bài bản về âm nhạc. Chính quá trình tự học, nghe đĩa hát, tiếp nhận kỹ thuật mới từ phương Tây kết hợp với vốn âm nhạc dân tộc đã tạo nên cho họ một con đường sáng tạo riêng. Những năm sau đó, các nhạc sĩ như Thẩm Oánh, Dương Thiệu Tước, Văn Chung, Lê Yên, Doãn Mẫn... nhanh chóng hòa quyện chất liệu dân gian để tân nhạc song hành cùng cổ nhạc, từng bước định hình một bản sắc âm nhạc thời kỳ này.

Sự chuyển mình ấy càng rõ nét sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Nếu những năm đầu, dòng nhạc lãng mạn diễn tả mạnh mẽ thế giới nội tâm và cái tôi cá nhân của một thế hệ thị dân, thì hoàn cảnh lịch sử mới đã tạo nên những ca khúc mang tinh thần yêu nước, cách mạng, kháng chiến. Âm nhạc không chỉ nói về tình yêu, nỗi nhớ hay những rung động cá nhân, mà còn trở thành tiếng nói của cộng đồng và thời đại.

2.jpg
Một số tờ nhạc do NXB Tinh Hoa ấn hành vào đầu thập niên 1950.

2. Một điểm đặc biệt của tân nhạc giai đoạn 1934 - 1954 là sự ra đời và bùng nổ của những “tờ nhạc”, với số bản in có thể lên tới hàng vạn. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Trương Quý, một tờ nhạc tiêu chuẩn có kích thước khoảng 44x28 cm, gập đôi; mặt trong in bản nhạc, mặt ngoài được trang trí bằng đồ họa bắt mắt, thể hiện nội dung ca khúc hoặc hình ảnh ca sĩ. Từ đầu thập niên 1940, những nhóm nhạc sĩ như Tricéa gồm Văn Chung, Lê Yên, Doãn Mẫn hay Myosotis gồm Thẩm Oánh, Dương Thiệu Tước, Vũ Khánh đã tiên phong trong việc xuất bản tờ nhạc tiêu chuẩn.

Với hình thức trình bày đẹp mắt, được đánh số, ghi năm xuất bản và thông tin về nhà xuất bản, mỗi tờ nhạc được giới yêu nhạc và công chúng thời ấy sưu tầm hoặc sử dụng như một món quà tặng. Từ đây, một ca khúc có thêm một “đời sống” khác: đời sống của một sản phẩm văn hóa được thiết kế, in ấn, lưu hành và cá nhân sở hữu.

Sau năm 1945, tờ nhạc càng trở thành một phương tiện quan trọng để truyền bá âm nhạc và tạo dựng thị trường. Các nhà xuất bản như Thế Giới ở Hà Nội, Tinh Hoa ở Huế, An Phú, Hương Mộc Lan, Á Châu ở Sài Gòn đã đưa hàng nghìn bản nhạc đến công chúng. Giá một tờ nhạc trong thập niên đầu 1950 khoảng 6 - 7 đồng, trong khi một cuốn sách dày khoảng 200 trang có giá 15 đồng. Mức giá ấy cho thấy người đương thời đã dành một khoản chi đáng kể cho việc thưởng thức và sở hữu sản phẩm âm nhạc.

Cùng với việc tờ nhạc được xuất bản và bán rộng rãi là cả một thị trường âm nhạc khá sôi động. Nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu từng kể, khi ông viết “Đoàn giải phóng quân” (tên ban đầu là “Đoàn quân Việt Nam”), bài hát được công chúng đón nhận đến mức ông Tăng Duyệt, chủ Nhà xuất bản Tinh Hoa, đã trả ngay cho ông 600 đồng tiền bản quyền.

Cũng trong giai đoạn này, đời sống biểu diễn có bước phát triển mới. Nhà nghiên cứu Nguyễn Trương Quý cho biết, những năm 1948 - 1954, các tụ điểm như Tân Nghệ sĩ ở khu vực Bờ Hồ, phòng trà Thiên Thai trên phố Hàng Bông, Thăng Long trên phố Hàng Gai trở thành những địa chỉ cà phê ca nhạc quen thuộc. Những buổi biểu diễn vào tối thứ bảy, chủ nhật tạo nên những điểm tụ văn hóa sôi động. Trên sóng đài phát thanh, Ban Việt Nhạc quy tụ nhiều nhạc sĩ, nhạc công tài năng, đưa các chương trình âm nhạc đến với đông đảo người nghe. Rạp Đại Đồng, sau khi được nhạc sĩ Đoàn Chuẩn mua lại, cũng trở thành nơi quy tụ nhiều giọng ca và tài năng biểu diễn.

3.jpg
Công chúng tham quan triển lãm. Ảnh: Bảo Tú

3. Theo Ban tổ chức triển lãm, nhìn lại hai thập niên tân nhạc Hà Nội không phải để hoài niệm hay lý tưởng hóa một thời kỳ đã qua, mà để nhận diện những yếu tố giúp một dòng nghệ thuật mới hình thành, trưởng thành và để lại dấu ấn lâu dài trong ký ức đô thị. Từ câu chuyện của tân nhạc, một vấn đề vẫn còn nguyên tính thời sự được đặt ra: khi mở cửa với những ngôn ngữ và công nghệ toàn cầu, thành phố sẽ tạo ra điều gì của mình và thuộc về chính mình?

Gần một thế kỷ trước, các nhạc sĩ đã tìm về chất liệu truyền thống để tạo nên con đường sáng tạo riêng. Hà Nội hôm nay cũng cần nhìn vào tinh thần ấy, nhưng trong một bối cảnh mới, nơi sáng tạo không thể chỉ dựa vào nỗ lực của từng nghệ sĩ mà cần những không gian giao thoa để các lĩnh vực cùng thử nghiệm, hợp tác và nâng đỡ lẫn nhau; đồng thời hình thành chuỗi giá trị từ sáng tạo, sản xuất, lưu thông đến tiếp cận công chúng. Trong đó, bản quyền và khả năng giúp người nghệ sĩ sống được với nghề là những điều kiện quan trọng để sáng tạo có thể tiếp tục phát triển.

Di sản vì thế không chỉ là những ký ức, những ca khúc “vang bóng” cần lưu giữ mà còn là nguồn chất liệu cho sáng tạo mới. Làm mới các bản phối, đưa những nét đẹp cổ điển vào thiết kế, điện ảnh hay ứng dụng công nghệ số là những cách để ký ức đô thị tiếp tục chạm đến thế hệ trẻ. Các thiết chế văn hóa như Bảo tàng Hà Nội cũng có thể vượt ra khỏi vai trò lưu giữ, trở thành không gian khơi nguồn đối thoại liên thế hệ, nơi di sản được diễn giải và tiếp tục tạo ra những giá trị mới. Từ việc hình thành phát triển của nền tân nhạc cách đây nhiều thập niên, có thể thấy sức sống của văn hóa đô thị không chỉ nằm ở những giá trị đã được tạo ra, mà còn ở khả năng kết nối để những giá trị ấy tiếp tục được sáng tạo và lan tỏa trong đời sống hôm nay.

Xem thêm

Chúng tôi muốn kể về mất mát, sự đồng hành và tiếp bước

Chúng tôi muốn kể về mất mát, sự đồng hành và tiếp bước

Chương trình nghệ thuật chính luận Nghĩa tình Phương Nam - Cùng con đi tiếp cuộc đời năm 2026 do Trung tâm Truyền hình VN khu vực Nam bộ (VTV Nam bộ) và Báo Thanh Niên phối hợp tổ chức. Đây là hoạt động tiếp nối mạch nguồn nhân ái của Nghĩa tình Phương Nam và đánh dấu chặng đường 5 năm Cùng con đi tiếp cuộc đời đồng hành, bảo trợ trẻ mồ côi do đại dịch Covid-19.

Thư pháp Hán Nôm và Quốc ngữ hội tụ tại Văn Miếu

Thư pháp Hán Nôm và Quốc ngữ hội tụ tại Văn Miếu

(CLO) Từ ngày 15 đến 19/9, chương trình “Nét chữ An Nhiên” giới thiệu nghệ thuật thư pháp Hán Nôm và Quốc ngữ tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám, kết hợp trình diễn, giao lưu và âm nhạc dân tộc trong không gian di sản.

Làm rõ quy mô Chính điện Kính Thiên, mở thêm cơ sở phục dựng

Làm rõ quy mô Chính điện Kính Thiên, mở thêm cơ sở phục dựng

(CLO) Cuộc khai quật khảo cổ lần thứ 4 tại khu vực nền Chính điện Kính Thiên năm 2026 đã làm rõ thêm quy mô, cấu trúc móng nền, móng cột và không gian kiến trúc công trình, qua đó bổ sung cơ sở khoa học quan trọng cho việc nghiên cứu, phục dựng Chính điện Kính Thiên.

Mở rộng không gian thưởng thức jazz giữa lòng Thủ đô

Mở rộng không gian thưởng thức jazz giữa lòng Thủ đô

(CLO) Mới đây, tại Nhà Bát Giác bên hồ Hoàn Kiếm (Hà Nội), chương trình “Âm nhạc cuối tuần” mang đến không gian thưởng thức jazz đặc sắc với sự tham gia của NSƯT Quyền Văn Minh cùng các nghệ sĩ Bình Minh Jazz Club, góp phần đưa nghệ thuật đến gần hơn với người dân và du khách.

Lạng Sơn lần đầu tổ chức Lễ hội Ánh sáng biên cương trong 2 ngày 19 - 20/9

Lạng Sơn lần đầu tổ chức Lễ hội Ánh sáng biên cương trong 2 ngày 19 - 20/9

(CLO) Lần đầu tiên, một bữa tiệc thị giác mang tên Lễ hội Ánh sáng biên cương sẽ được tổ chức tại Lạng Sơn. Với sự kết hợp giữa nghệ thuật ánh sáng hiện đại như trình diễn Drone, cùng vẻ đẹp truyền thống của những chiếc đèn lồng khổng lồ, sự kiện diễn ra vào trung tuần tháng 9/2026.

Hội đua bò Chùa Rô: 32 đôi bò tranh tài, giải thưởng lớn mang tính kỷ lục

Hội đua bò Chùa Rô: 32 đôi bò tranh tài, giải thưởng lớn mang tính kỷ lục

(CLO) Hàng nghìn người dân và du khách đã đổ về xã An Cư, tỉnh An Giang để chứng kiến những màn tranh tài gay cấn của 32 đôi bò tại Hội đua bò truyền thống Chùa Rô lần thứ 12 năm 2026. Với mức tiền thưởng giải Nhất tăng kỷ lục lên tới 30 triệu đồng, giải đấu năm nay mang đến những vòng đua rực lửa và kịch tính chưa từng có.

Có gì trong sự kiện kỷ niệm 30 năm thương hiệu Maison Kayser tại Phú Quốc?

Có gì trong sự kiện kỷ niệm 30 năm thương hiệu Maison Kayser tại Phú Quốc?

Ngày 13/9, cửa hàng Eric Kayser tại Thị trấn Hoàng Hôn, Phú Quốc sẽ tổ chức sự kiện hưởng ứng cột mốc 30 năm hình thành và phát triển của thương hiệu bánh Pháp Maison Kayser. Những màn biểu diễn mang cảm hứng lễ hội đường phố Paris cùng loạt quà tặng dành cho khách hàng tròn 30 tuổi hứa hẹn tạo nên một điểm hẹn ngọt ngào tại Nam đảo dịp cuối tuần.

Cỡ chữ bài viết: