Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động, đặc biệt là thực tập sinh
Ngày 10/8, thảo luận tại Quốc hội về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, đại biểu Chu Lương Trí (đoàn Quảng Ninh) bày tỏ cơ bản tán thành với sự cần thiết phải sửa đổi Luật.
Theo đại biểu, đây là chính sách có ý nghĩa quan trọng, không chỉ góp phần giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động, mà còn tạo cơ hội để người lao động Việt Nam được đào tạo, nâng cao kỹ năng nghề, ngoại ngữ và tác phong công nghiệp.
Để tiếp tục hoàn thiện dự thảo Luật, đại biểu góp ý về 4 vấn đề, trong đó có việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động, đặc biệt là thực tập sinh.
Đại biểu phân tích thực tế có hiện tượng người lao động Việt Nam được đưa ra nước ngoài dưới hình thức thực tập sinh, đào tạo kỹ năng nghề, nhưng công việc, thời gian làm việc và trách nhiệm thực tế lại không có sự khác biệt đáng kể so với lao động chính thức.
“Nếu quyền lợi của người lao động không tương xứng với công việc thực tế thì đây là vấn đề cần được quan tâm cả dưới góc độ pháp lý và bảo hộ công dân", đại biểu Chu Lương Trí nói, đồng thời đề nghị dự thảo Luật tiếp tục làm rõ hơn trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp hoặc tổ chức đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài và cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài trong việc theo dõi, tiếp nhận phản ánh, hỗ trợ và phối hợp với cơ quan có thẩm quyền của nước tiếp nhận để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động”.
“Tôi hiểu rằng Việt Nam không thể thay thế pháp luật và quan điểm về đối tượng lao động của nước tiếp nhận, nhưng chúng ta hoàn toàn có thể và cần thiết lập cơ chế bảo hộ chủ động, kịp thời và thực chất đối với công dân Việt Nam ở nước ngoài”, ông nói thêm.
Đối với nội dung các chủ thể được phép đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Đại biểu cho rằng việc mở rộng và đa dạng hóa các chủ thể tham gia, nếu được quản lý chặt chẽ, có thể tạo thêm cạnh tranh về chất lượng dịch vụ, mở rộng cơ hội việc làm và góp phần giảm chi phí cho người lao động.
Theo dự thảo, hoạt động dịch vụ đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài là ngành, nghề kinh doanh có điều kiện và chỉ doanh nghiệp Việt Nam có giấy phép mới được thực hiện. Đối với đơn vị sự nghiệp, dự thảo quy định là đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ được giao nhiệm vụ.
Trong khi đó, tại quy định về “chuẩn bị nguồn lao động”, dự thảo cho phép doanh nghiệp dịch vụ trực tiếp hoặc hợp tác, liên kết với các cơ sở giáo dục để đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng nghề và ngoại ngữ cho người lao động.
Từ quy định này, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu một vấn đề: Nếu các cơ sở giáo dục, cơ sở đào tạo đã có vai trò trong việc chuẩn bị nguồn nhân lực, đào tạo ngoại ngữ và kỹ năng nghề cho người lao động thì có nên nghiên cứu mở rộng hơn phạm vi chủ thể được tham gia hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài hay không?
“Theo tôi, đây là vấn đề cần được nghiên cứu trên nguyên tắc vừa mở rộng cơ hội và nâng cao tính cạnh tranh, vừa bảo đảm kiểm soát chặt chẽ chất lượng và quyền lợi của người lao động”, ông Trí nhấn mạnh.
Lấy quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động làm trung tâm
Về vấn đề chi phí mà người lao động phải bỏ ra để đi làm việc ở nước ngoài, đại biểu đánh giá cao việc dự thảo đã quy định mức trần tiền dịch vụ và không cho phép thu tiền môi giới từ người lao động. Tuy nhiên, đại biểu cũng cho rằng cần nhìn vào tổng chi phí thực tế mà người lao động phải bỏ ra trước khi xuất cảnh, chứ không chỉ kiểm soát từng khoản riêng lẻ.
Ông đề nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu và bổ sung quy định trong nghị định hướng dẫn thi hành luật, về việc trước khi ký hợp đồng, người lao động phải được cung cấp một bảng tổng hợp đầy đủ các khoản chi phí, bao gồm tiền dịch vụ, đào tạo, visa, khám sức khỏe, vé máy bay, tiền ký quỹ và các khoản hợp pháp khác. Đồng thời, không được chia nhỏ hoặc thay đổi tên gọi các khoản thu nhằm vượt mức pháp luật cho phép.
Về vấn đề cơ chế phối hợp xử lý đối với người Việt Nam vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong thời gian làm việc ở nước ngoài, đại biểu cho rằng thời gian qua có một số trường hợp người Việt Nam trong thời gian làm việc ở nước ngoài vi phạm pháp luật của nước sở tại. Trong đó, có những hành vi nghiêm trọng, có tổ chức như trộm cắp, ma túy, cờ bạc, mại dâm, buôn bán hoặc kinh doanh trái phép. Những hành vi này không chỉ gây thiệt hại cho chính người vi phạm mà còn ảnh hưởng đến hình ảnh người Việt Nam và uy tín của hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài.
Do đó, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu bổ sung cơ chế phối hợp tư pháp và cơ chế xử lý tương thích giữa Việt Nam và nước tiếp nhận đối với những trường hợp vi phạm nghiêm trọng.
Nguyên tắc chung là người vi phạm phải được xử lý nghiêm minh theo pháp luật; trường hợp thuộc thẩm quyền của nước sở tại thì được xử lý tại nước sở tại; trường hợp pháp luật, điều ước quốc tế và sự thỏa thuận giữa hai nước cho phép thì nghiên cứu cơ chế dẫn độ, chuyển giao hoặc tiếp nhận người phạm tội về Việt Nam để xử lý theo thẩm quyền.
Đồng thời, cần tăng cường trách nhiệm của doanh nghiệp, tổ chức đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài trong việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật, phòng ngừa vi phạm và phối hợp với cơ quan có thẩm quyền khi phát sinh vụ việc. Qua đó, vừa bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động, vừa góp phần bảo vệ hình ảnh và uy tín của người Việt Nam ở nước ngoài.
“Tôi cho rằng mục tiêu của chính sách không chỉ là đưa được bao nhiêu người đi làm việc ở nước ngoài mà quan trọng hơn là người lao động được đi với chi phí hợp lý, được bảo vệ trong quá trình làm việc và khi trở về có thể phát huy những kỹ năng, kinh nghiệm, ngoại ngữ và tác phong công nghiệp đã tích lũy được"- đại biểu nói.
Ông đề nghị cơ quan soạn thảo tiếp tục hoàn thiện dự thảo Luật theo hướng lấy quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động làm trung tâm, đồng thời tạo môi trường minh bạch, cạnh tranh và có trách nhiệm trong hoạt động đưa người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài.