Phân bổ đúng thời điểm để tài nguyên tần số nhanh chóng tạo giá trị
Ngày 13/8, Quốc hội thảo luận về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tần số vô tuyến điện, Luật Viễn thông, Luật Giao dịch điện tử và Luật Chuyển giao công nghệ.
Đánh giá kết quả sau khi Luật Tần số vô tuyến điện được sửa đổi năm 2022, đại biểu Tào Đức Thắng (Đoàn ĐBQH TP Hồ Chí Minh) cho rằng, việc hoàn thiện hành lang pháp lý đã tạo điều kiện để đấu giá, phân bổ các băng tần phục vụ phát triển hạ tầng di động 4G, 5G.
Các phiên đấu giá đối với băng tần 2.600 MHz, 3.500 MHz và gần đây là 700 MHz vừa tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước, vừa mở thêm dư địa để doanh nghiệp đầu tư hạ tầng, nâng cao chất lượng dịch vụ. Người dân cũng được hưởng lợi từ chất lượng kết nối ngày càng tốt hơn.
Từ thực tế này, đại biểu lưu ý, với tài nguyên tần số, hiệu quả không chỉ nằm ở việc tổ chức đấu giá mà còn phụ thuộc rất lớn vào thời điểm phân bổ.
Theo đại biểu, giá trị của một băng tần gắn với sự phát triển của công nghệ, hệ sinh thái thiết bị và nhu cầu thị trường. Khi công nghệ đã đủ độ chín, thị trường sẵn sàng, việc đưa băng tần vào khai thác đúng lúc sẽ giúp chuyển hóa nhanh tài nguyên này thành năng lực hạ tầng và chất lượng dịch vụ. Ngược lại, nếu chậm đưa vào sử dụng, giá trị khai thác của tài nguyên tần số có thể bị suy giảm.
Đại biểu Tào Đức Thắng dẫn chứng từ quá trình triển khai 5G. Trong thời gian ngắn sau khi được cấp băng tần, vùng phủ 5G đã đạt 92% dân số. Theo đánh giá của tổ chức đo lường quốc tế, tốc độ truy cập mạng di động băng rộng của Việt Nam tăng 3,5 lần, từ 51 Mbps lên 180 Mbps, đưa Việt Nam từ vị trí thứ 58 lên thứ 13 thế giới.
“Khi tài nguyên tần số được phân bổ đúng thời điểm sẽ nhanh chóng chuyển hóa thành năng lực hạ tầng, chất lượng dịch vụ và lợi ích thiết thực cho xã hội”, đại biểu Tào Đức Thắng nhấn mạnh.
Cơ chế đặc thù phải gắn với nhiệm vụ quốc phòng, an ninh
Liên quan khoản 3 Điều 1 của dự thảo Luật, sửa đổi, bổ sung điểm d khoản 4 Điều 18 Luật Tần số vô tuyến điện về tỷ lệ cấp băng tần cụ thể cho doanh nghiệp nhà nước trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh để phát triển kinh tế kết hợp với thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, đại biểu Tào Đức Thắng bày tỏ đồng tình với việc thiết kế cơ chế đặc thù.
Theo đại biểu, việc dành cơ chế riêng cho những trường hợp phục vụ trực tiếp nhiệm vụ quốc phòng, an ninh là cần thiết. Việc nâng thời hạn cấp phép ban đầu lên 5 năm cũng phù hợp với đặc thù đầu tư hạ tầng viễn thông, bởi đây là lĩnh vực đòi hỏi nguồn vốn lớn, thời gian triển khai và thu hồi vốn dài.
Tuy nhiên, đại biểu lưu ý đây vẫn là ngoại lệ so với nguyên tắc phân bổ băng tần thông qua đấu giá, do đó các điều kiện áp dụng cần được quy định đủ rõ để bảo đảm minh bạch và cạnh tranh bình đẳng.
Tại phiên thảo luận, một số đại biểu cũng đề nghị làm rõ các khái niệm “trường hợp đặc biệt”, “tỷ lệ cơ bản” trong dự thảo, bởi đây là những tiêu chí có tính quyết định nhưng hiện còn mang tính định tính.
Đáng chú ý, Nghị định số 63/2023/NĐ-CP hiện xác định lượng tần số phục vụ nhiệm vụ quốc phòng, an ninh tối thiểu bằng 51% tổng lượng tần số đề nghị cấp phép. Từ đó, các đại biểu đề nghị nghiên cứu đưa vào Luật nguyên tắc rõ hơn: việc cấp băng tần theo cơ chế đặc biệt phải gắn trực tiếp với nhiệm vụ quốc phòng, an ninh; phần tài nguyên phục vụ nhiệm vụ này phải chiếm tỷ lệ chủ yếu và tỷ lệ cụ thể cần được xác định rõ.
Chính phủ có thể được giao quy định phương pháp xác định, đo lường và giám sát để bảo đảm việc áp dụng thống nhất, phù hợp thực tiễn.
Một vấn đề khác được các đại biểu lưu ý là cần tách bạch phần tài nguyên tần số sử dụng cho quốc phòng, an ninh với phần khai thác kinh doanh. Với phần tài nguyên được sử dụng cho hoạt động kinh doanh, cần bảo đảm hạch toán minh bạch, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính và tuân thủ các nguyên tắc cạnh tranh bình đẳng với các doanh nghiệp khác.
Đây cũng là yêu cầu đặt ra để cơ chế đặc thù thực sự phục vụ đúng mục tiêu, tránh để ranh giới giữa nhiệm vụ quốc phòng, an ninh và hoạt động kinh doanh trở nên thiếu rõ ràng trong quá trình khai thác nguồn tài nguyên tần số.