Cùng với các nghị quyết chuyên đề, Dự án 6 thuộc Chương trình mục tiêu Quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã trở thành nền tảng quan trọng giúp tỉnh đẩy mạnh hoạt động sưu tầm, phục dựng và truyền dạy di sản.
Thay vì bảo tồn rời rạc, Thái Nguyên triển khai mô hình khôi phục văn hóa ngay trong cộng đồng, để mỗi nghi lễ và tập quán được trả về đúng môi trường hình thành của nó. Nhờ vậy, nhiều phong tục vốn chỉ còn trong trí nhớ của người cao tuổi đã được đưa trở lại đời sống. Các thực hành gắn với chu kỳ sinh hoạt của người Tày, Sán Dìu hay Nùng được phục dựng theo hướng bài bản, ghi chép đầy đủ và có sự tham gia trực tiếp của nghệ nhân địa phương.
Tại Lam Vỹ, một đám cưới truyền thống của người Tày được tái hiện với đầy đủ nghi thức, từ lời mời rể đến lễ rước dâu. Ở Vô Tranh, nghi lễ cầu mùa – biểu tượng gắn với nông nghiệp nương rẫy – được tổ chức để giới trẻ hiểu cách cha ông gửi gắm ước vọng mùa màng. Tại Nam Hòa, lễ cấp sắc của nam giới dân tộc Nùng Phàn Sình được thực hành với sự hỗ trợ của các nghệ nhân cao tuổi, đánh dấu quá trình chuyển giao văn hóa giữa các thế hệ.
Song song với phục dựng nghi lễ, nhiều lễ hội truyền thống cũng được khôi phục trở lại. Lồng tồng Nà Liền Mạ trở thành điểm hẹn văn hóa giữa các bản làng; lễ hội Mù Là tái hiện chu kỳ nông nghiệp cổ truyền; còn chợ tình Xuân Dương tạo không gian giao duyên, nơi những giá trị tinh thần của các dân tộc thiểu số được tôn vinh qua lời ca tiếng hát.
Theo thống kê, Thái Nguyên hiện có hơn 700 di sản văn hóa phi vật thể. Việc “Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái” được UNESCO ghi danh đã tạo động lực lớn để tỉnh tiếp tục mở rộng hoạt động bảo tồn. Các nghệ nhân – những người được ví như “kho tư liệu sống” – giữ vai trò trung tâm trong quá trình này. Sự tỉ mỉ, bền bỉ của họ giúp nhiều làn điệu, nghi thức và tri thức dân gian tiếp tục hiện diện trong đời sống, thay vì chỉ nằm lại trong sách vở.
Những năm gần đây, Thái Nguyên lựa chọn hướng đi mới: gắn bảo tồn văn hóa với phát triển du lịch cộng đồng. Tinh thần của mô hình này là mang văn hóa ra khỏi khuôn khổ sân khấu và đưa vào không gian sinh hoạt thực tế của người dân. Khi du lịch trở thành sinh kế, văn hóa có điều kiện để tồn tại một cách tự nhiên.
Nhiều điểm du lịch cộng đồng lần lượt xuất hiện, cho thấy hiệu quả của cách làm này. Không gian làng nhà sàn Thái Hải ở Tân Cương thu hút du khách bằng các sinh hoạt đời thường của người Tày; các thôn Phiêng Phàng, Phiêng An hay Bản Quyên (Phú Đình) giới thiệu nghề dệt thổ cẩm, nhuộm chàm, nghệ thuật trình diễn như hát then, múa khèn, đàn tính. Những sản phẩm ẩm thực bản địa như cơm lam, thịt hun khói, nộm hoa chuối được đưa vào trải nghiệm du khách, trở thành cầu nối để văn hóa đến gần hơn với công chúng.
Nhờ vào sức lan tỏa của du lịch cộng đồng, nhiều thanh niên người dân tộc thiểu số bắt đầu học lại tiếng mẹ đẻ, tham gia đội văn nghệ thôn bản, luyện tập nhạc cụ và chủ động giới thiệu di sản cho du khách. Sự chuyển biến này không chỉ tạo thêm nguồn thu mà còn giúp thế hệ trẻ nhận thức rõ trách nhiệm giữ gìn nét riêng của dân tộc mình.
Từ chủ trương đến hành động, Thái Nguyên đã hình thành một hệ sinh thái văn hóa bền vững, nơi di sản không chỉ được bảo tồn mà còn được tái sinh trong đời sống mới. Bản sắc văn hóa vì thế trở thành nguồn lực tinh thần, góp phần củng cố sự gắn kết cộng đồng và tạo động lực phát triển cho các địa phương miền núi trong giai đoạn hiện nay.