Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, sự phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn và các hệ thống thuật toán khuyến nghị đang làm thay đổi sâu sắc phương thức sản xuất, phân phối và tiếp nhận thông tin. Nếu báo chí truyền thống giữ vai trò chủ đạo trong lựa chọn, biên tập và tổ chức thông tin đến công chúng, gắn với trách nhiệm xã hội, thì trên mạng xã hội, việc thông tin nào được ưu tiên hiển thị, đến với ai và được lặp lại với tần suất ra sao ngày càng chịu sự chi phối của các thuật toán do doanh nghiệp nền tảng thiết kế và vận hành.
Thuật toán khuyến nghị là hệ thống lựa chọn, xếp hạng và đề xuất nội dung dựa trên nhiều tín hiệu, trong đó có lịch sử tương tác và hành vi sử dụng. Nhờ cơ chế này, người dùng có thể tiếp xúc với nội dung từ các tài khoản mình chưa từng tìm kiếm hoặc theo dõi. Từ đó hình thành những dòng thông tin được “may đo” theo đặc điểm của mỗi cá nhân, gần với sở thích và thói quen tiếp cận của từng người.
Sự dịch chuyển này làm thay đổi mối quan hệ giữa người sản xuất và người tiếp nhận thông tin. Một nội dung được đăng tải có thể vượt ra ngoài phạm vi những người theo dõi ban đầu; ngược lại, một thông tin có giá trị xã hội chưa đương nhiên tiếp cận được nhóm công chúng đang cần nó. Khả năng hiện diện trên dòng tin còn phụ thuộc vào cách nền tảng lựa chọn và phân phối.
PGS.TS. Nguyễn Thị Trường Giang, Phó Giám đốc Học viện Báo chí và Tuyên truyền, phân tích: trên mạng xã hội, giữa người làm nội dung và công chúng còn có một chủ thể quan trọng là nền tảng và thuật toán phân phối. Thuật toán không đánh giá một thông tin quan trọng hay có giá trị xã hội theo cách của người làm báo, mà dựa rất nhiều vào hành vi người dùng để quyết định nội dung nào tiếp tục được phân phối.
Như vậy, quyền lựa chọn thông tin đã có thêm sự tham gia của nền tảng mạng xã hội. Cơ chế này vừa mở rộng khả năng tiếp cận nội dung ngoài những nguồn người dùng chủ động theo dõi, vừa đặt ra câu hỏi về phạm vi thông tin mỗi cá nhân thực sự được nhìn thấy.
Một nguy cơ của cơ chế cá nhân hóa là sự hình thành các “bong bóng thông tin” và môi trường trao đổi chủ yếu củng cố những quan điểm tương đồng. Người dùng có thể tiếp xúc nhiều hơn với nội dung phù hợp sở thích, hành vi và quan điểm sẵn có. Nếu thiếu thói quen đối chiếu, tìm kiếm nguồn độc lập và xem xét bối cảnh, họ có thể khó nhận ra giới hạn của dòng thông tin đang tiếp nhận.
Theo Trung tá, ThS. Lê Tất Thành, Phó Trưởng khoa Ngoại ngữ - Tin học, Học viện Chính trị Công an nhân dân, cơ chế đề xuất mang lại sự thuận tiện, đồng thời làm gia tăng nguy cơ hình thành môi trường thông tin khép kín. Trong môi trường ấy, thiên kiến xác nhận có thể khiến người dùng tiếp tục củng cố quan điểm ban đầu mà chưa đánh giá đầy đủ tính xác thực của thông tin.
Thuật toán tác động đến phạm vi thông tin cá nhân tiếp nhận, từ đó có thể ảnh hưởng đến cách họ nhận thức thực tiễn xã hội. Sự tham gia của thuật toán khuyến nghị vì thế vượt ra ngoài phạm vi yếu tố kỹ thuật, trở thành vấn đề có ý nghĩa xã hội, chính trị và quản trị thông tin.
Đối với công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đây là điểm cần nhận diện: đấu tranh với nội dung sai trái phải gắn với việc hiểu cơ chế đưa nội dung ấy đến công chúng. Nếu chỉ nhìn vào một bài viết, một video hoặc một tài khoản, có thể chưa thấy đầy đủ quá trình lựa chọn, lặp lại và khuếch đại thông tin phía sau.
Lợi dụng đặc tính vận hành của các thuật toán mạng xã hội, các thế lực thù địch, phản động và đối tượng xấu có thể kết hợp nội dung xuyên tạc với những cách thức tạo tương tác, kích thích cảm xúc và phát tán có điều phối. Hoạt động chống phá vì vậy có thêm khả năng len vào dòng thông tin được cá nhân hóa, tiếp cận cả những người không chủ động tìm kiếm nội dung ban đầu.
Điểm đáng chú ý của phương thức này là sự gắn kết giữa thông điệp và cơ chế phân phối. Một sự việc bị cắt ghép, một nhận định thiếu căn cứ hay một hình ảnh bị đặt sai bối cảnh có thể được sử dụng để khơi gợi phản ứng. Những phản ứng ấy lại tạo thêm cơ hội để nội dung tiếp tục lan truyền.
Bởi vậy, nhận diện “chiến tranh thông tin dựa trên thuật toán” cần đi vào cách các đối tượng khai thác mối quan tâm, tổ chức nội dung, tạo tương tác và lợi dụng khả năng đề xuất của nền tảng. Đây là quá trình cần được phân tích bằng chứng cứ, thay vì chỉ đánh giá mức độ nguy hiểm qua số lượt xem hoặc chia sẻ.
Thứ nhất là thủ đoạn cá nhân hóa thông tin độc hại. Nội dung chống phá có thể được điều chỉnh theo mối quan tâm của từng nhóm xã hội, kết hợp với khả năng phân phối của nền tảng để mở rộng tiếp cận.
Với thanh niên, sinh viên, những vấn đề về lịch sử, lý tưởng và lựa chọn lối sống có thể bị khai thác để lồng ghép cách nhìn phiến diện, gieo rắc hoài nghi. Với công nhân, người lao động, các vụ việc tranh chấp lao động, ô nhiễm môi trường hoặc bất cập trong chính sách có thể bị cắt rời khỏi bối cảnh, diễn giải theo hướng quy chụp nhằm khoét sâu bức xúc. Với cán bộ, đảng viên, khoảng trống thông tin về công tác nhân sự và các vụ án tham nhũng có thể bị lợi dụng để suy diễn, gây nghi ngờ về sự đoàn kết nội bộ. Điểm chung là từ những vấn đề công chúng quan tâm, các đối tượng tìm cách dẫn dắt sang những kết luận xuyên tạc về Đảng và Nhà nước.
Thượng tá, TS. Đào Trung Hiếu, chuyên gia tội phạm học, thành viên Hiệp hội An ninh mạng Quốc gia, phân tích rằng thủ đoạn thường bắt đầu từ việc cắt ghép một sự việc cá biệt, tước bỏ bối cảnh, gắn cho nó một cách diễn giải kích động rồi phát tán vào những cộng đồng đang có tâm lý bức xúc hoặc nhạy cảm.
Bằng chứng rõ nhất trong trường hợp này có thể nhận thấy ở những hoạt động chống phá Nhà nước của các đối tượng phản động như Lê Trung Khoa hay Nguyễn Văn Đài. Chúng lợi dụng các nền tảng mạng xã hội để cắt ghép nội dung, bối cảnh câu chuyện, rồi đưa những thông tin sai lệch có chủ đích về các chủ trương, đường lối, quan điểm của nước ta, cũng như hoạt động của các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước, rồi khuếch đại thông qua nhiều kênh, tài khoản cá nhân.
Sự lợi dụng ở đây nằm trong quá trình kết hợp chủ đích phát tán với phản ứng của người dùng và cơ chế phân phối của nền tảng. Người tạo nội dung tìm cách đánh trúng điều công chúng đang quan tâm; nội dung gây phản ứng có thể tạo thêm tín hiệu để hệ thống tiếp tục đề xuất.
Thứ hai là thao túng xu hướng bằng hạ tầng kỹ thuật vô hình. Một thủ đoạn khác là sử dụng mạng lưới tài khoản giả mạo, ẩn danh hoặc nhóm có sự điều phối để tạo tương tác, lặp lại thông điệp và thúc đẩy tranh luận theo hướng cực đoan. Khi nhiều tài khoản cùng phát tán, bình luận hoặc dẫn lại một nội dung, người tiếp nhận có thể có cảm giác đó là vấn đề được đông đảo cộng đồng xác nhận.
Theo phân tích của TS. Đào Trung Hiếu, khi người dùng bình luận vì tò mò hoặc chia sẻ vì phẫn nộ, thuật toán có thể tiếp nhận đó như tín hiệu quan tâm và tiếp tục phân phối nội dung tương tự. Phản ứng của người dùng vì thế có thể bị cuốn vào quá trình khuếch đại, kể cả khi họ không có chủ đích hỗ trợ người phát tán. “Cảm xúc cực đoan tạo tương tác; tương tác làm nội dung được khuếch đại; sự khuếch đại lại khoét sâu cảm xúc cực đoan. Đó là vòng xoáy nguy hiểm”, chuyên gia Hiếu nhận định.
Vòng xoáy ấy đặt ra yêu cầu theo dõi cả nội dung lẫn dấu hiệu phát tán bất thường. Việc nhiều tài khoản xuất hiện với thông điệp tương đồng, liên tục dẫn lại cùng một cách diễn giải hoặc thúc đẩy bình luận kích động là những dấu hiệu cần được xem xét, đối chiếu. Kết luận về hành vi điều phối phải dựa trên căn cứ cụ thể.
Từ góc độ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, xử lý từng thông tin sai lệch cần gắn với nhận diện cách chúng được tổ chức lan truyền. Khi một nội dung được thay đổi hình thức và tiếp tục xuất hiện từ những tài khoản khác, chỉ phản bác bản đăng đầu tiên có thể chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu ứng phó.
Thứ ba là công nghệ deepfake và “sự dối trá được thuật toán bảo chứng”. Việc tích hợp AI tạo sinh vào sản xuất nội dung làm gia tăng khả năng tạo ra hình ảnh, âm thanh và video giả mạo. Khi hình thức thể hiện có sức thuyết phục về thị giác hoặc âm thanh, người tiếp nhận thiếu kỹ năng kiểm chứng có thể nhầm lẫn giữa sản phẩm được tạo dựng với sự việc có thật.
Trung tá, ThS. Lê Tất Thành lưu ý, việc kết hợp tài khoản giả, nội dung do trí tuệ nhân tạo tạo ra và công nghệ giả mạo hình ảnh, giọng nói khiến việc xác định nguồn tin, kiểm chứng và phân biệt thật – giả ngày càng khó khăn.
Trong mối liên hệ với thuật toán khuyến nghị, nguy cơ nằm ở khả năng nội dung giả mạo tiếp tục được đề xuất, lặp lại và mở rộng phạm vi tiếp cận. Cảm giác một thông tin xuất hiện ở nhiều nơi có thể khiến người dùng xem sự phổ biến như một dấu hiệu đáng tin.
Ở đây, “sự dối trá được thuật toán bảo chứng” cần được hiểu ở nguy cơ ngộ nhận ấy. Đó là sự hiện diện liên tục của nội dung có thể tạo cảm giác được xác nhận, trong khi số lần xuất hiện không thay thế cho bằng chứng về tính xác thực. Thuật toán đề xuất một nội dung không có nghĩa nội dung đó đã được kiểm chứng.
Sự can thiệp của thuật toán khuyến nghị vào quá trình phân phối thông tin đặt công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trước những yêu cầu mới. Bên cạnh đấu tranh với từng luận điệu sai trái, còn phải quan tâm đến môi trường mà trong đó những luận điệu ấy có thể được lựa chọn, lặp lại và khuếch đại.
Trước hết là thách thức về khả năng nhận diện. Thông tin xuyên tạc có thể được lồng ghép vào một sự việc thật, sử dụng những chi tiết có thật nhưng thiếu bối cảnh để dẫn đến kết luận sai. Khi tiếp tục được đề xuất theo mối quan tâm cá nhân, nội dung ấy có thể tiếp cận người dùng dưới hình thức gần gũi với dòng thông tin họ thường xem.
Tiếp đến là thách thức về thời điểm và khả năng tiếp cận. Thông tin chính thống cần được xác minh, biên tập và chịu trách nhiệm về nội dung; trong khi người phát tán tin đồn có thể khai thác ngay khoảng trống giải thích. Khi thông tin sai đã xuất hiện lặp lại, việc cung cấp câu trả lời đúng có thể gặp thêm khó khăn trong tiếp cận người đã bị tác động.
Một thách thức khác là năng lực theo dõi cơ chế phân phối. Theo Phó Trưởng khoa Ngoại ngữ - Tin học, Học viện Chính trị Công an nhân dân, Trung tá, ThS. Lê Tất Thành, hoạt động phân phối do các nền tảng, phần lớn là nền tảng xuyên biên giới, vận hành khiến việc giám sát, dự báo và xử lý gặp nhiều khó khăn. Điều này đòi hỏi công tác tư tưởng gắn chặt hơn với năng lực phân tích dữ liệu, hiểu nền tảng và phối hợp chuyên môn.
Tuy nhiên, nhận diện đúng nguy cơ cũng đòi hỏi tránh tuyệt đối hóa vai trò của thuật toán. Chuyên gia Đào Trung Hiếu nhấn mạnh: “Cần nhìn nhận đúng bản chất: thuật toán không tự tạo ra mâu thuẫn xã hội, cũng không phải nguyên nhân duy nhất dẫn đến các vụ việc phức tạp về an ninh, trật tự”.
Nhận định ấy giúp xác định đúng đối tượng và phương thức đấu tranh. Những vấn đề thực tế của đời sống phải được nhìn nhận, giải thích và giải quyết bằng trách nhiệm của các chủ thể liên quan. Đồng thời, hành vi lợi dụng vấn đề ấy để xuyên tạc, kích động và khuếch đại thông tin sai lệch phải được nhận diện trên cơ sở chứng cứ.
Công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng vì thế cần tiếp cận đồng thời cả nội dung, phương thức phân phối và người tiếp nhận. Hiểu thuật toán để nhận diện con đường lan truyền; hiểu công chúng để giải thích đúng điều họ quan tâm; giữ vững căn cứ và tính thuyết phục để củng cố niềm tin.
Sự can thiệp của thuật toán không còn thuần túy là vấn đề kỹ thuật số, mà đã trở thành một hiện tượng xã hội, chính trị sâu sắc. Thuật toán không có lập trường chính trị, không có bản lĩnh giai cấp và không chịu trách nhiệm trước sự ổn định của một quốc gia, nhưng nó lại sở hữu quyền lực thực tế trong việc định hình nhận thức cộng đồng, điều khiển hành vi xã hội và thao túng tâm lý đám đông. Đây chính là điểm “thắt nút” tạo ra những nguy cơ chưa từng có đối với công tác tư tưởng của Đảng.
Còn tiếp...
Bài 2: Thông tin thiên lệch và nguy cơ suy giảm niềm tin trên không gian mạng