Bài 2: Nếu không chạm tới 'niềm tin thật', công tác tư tưởng rất dễ trở thành hình thức
Bài 3: Công tác chính trị trong Đảng - Không chỉ tuyên truyền, mà là giữ con người, giữ niềm tin
Văn hóa trong Đảng bắt đầu từ những điều cụ thể
Một người dân đến cơ quan công quyền làm thủ tục, điều họ mong muốn đôi khi rất giản dị, như là được hướng dẫn rõ ràng, được giải thích khi hồ sơ phát sinh vướng mắc và biết phải liên hệ với ai nếu công việc chậm trễ. Một lời giải thích cặn kẽ, thái độ bình tĩnh trước câu hỏi chưa rõ ràng hay sự thẳng thắn nhận lỗi khi hướng dẫn chưa đầy đủ đều cho thấy người cán bộ nhìn nhận trách nhiệm của mình như thế nào. Đằng sau cách ứng xử ấy là sự tôn trọng Nhân dân và quan niệm về mối quan hệ giữa người thực thi công vụ với người được phục vụ.
Tại phường Đông Sơn, Thanh Hóa, mô hình “Giờ làm việc thứ 9” được triển khai bằng cách tăng thêm thời gian tiếp nhận người dân ngoài giờ hành chính thông thường (dành thêm 30 phút buổi sáng và 30 phút buổi chiều); cùng với đó là "dịch vụ công lưu động" thông qua những buổi đưa dịch vụ công đến nhà văn hóa khu dân cư. Mỗi buổi hỗ trợ lưu động như vậy có thể tiếp nhận, hướng dẫn gần 300 lượt người dân. Cách làm này cho thấy cơ quan công quyền đã chủ động điều chỉnh phương thức phục vụ theo nhu cầu thực tế, thay vì chỉ yêu cầu người dân tìm đến trụ sở trong khung giờ cố định.
Ở một lát cắt khác, ông Hoàng Văn Bảng, 91 tuổi, có 66 năm tuổi Đảng, tự nguyện hiến khoảng 48 m² đất để mở rộng đường tại thôn Đỗ Xá, xã Vĩnh Lại, Hải Phòng. Việc làm ấy gắn với nhu cầu thiết thực của cộng đồng, cho thấy sức lan tỏa của tinh thần nêu gương khi lợi ích chung được đặt lên trên phần lợi ích riêng. Khi đảng viên làm trước bằng hành động cụ thể, lời vận động người dân có thêm sức thuyết phục, sự đồng thuận cũng có điều kiện được bồi đắp từ thực tế.
Hai trường hợp, một bên là cách tổ chức phục vụ người dân, bên kia là hành động nêu gương của đảng viên, cùng gợi ra một điều: văn hóa trong Đảng không nằm ở những khái niệm xa vời, mà hiện diện trong lựa chọn và cách hành xử hằng ngày.
Tuy nhiên, văn hóa còn thể hiện ở cách tổ chức đảng bàn bạc trước vấn đề khó, cách cán bộ lắng nghe ý kiến khác biệt, cách người đứng đầu sử dụng quyền hạn và cách tập thể tự phê bình, sửa chữa khuyết điểm. Một tập thể biết tôn trọng sự thật, trao đổi thẳng thắn, phân định rõ trách nhiệm và theo đuổi giải pháp đến cùng đang thực hành văn hóa ngay trong hoạt động lãnh đạo, quản lý.
Vì thế, xây dựng văn hóa trong Đảng không thể chỉ dừng ở việc ban hành quy tắc ứng xử, tổ chức học tập chuyên đề hay yêu cầu cán bộ viết bản cam kết tu dưỡng. Những hoạt động ấy cần thiết, nhưng giá trị phải được kiểm chứng qua hành động. Nếu người dân vẫn phải đi lại nhiều lần vì hướng dẫn thiếu rõ ràng, kiến nghị chậm được trả lời, người có trách nhiệm tìm cách né tránh việc khó thì những thông điệp về liêm chính, tận tụy, gần dân chưa thực sự trở thành văn hóa của cơ quan.
Từ lý tưởng chung đến chuẩn mực hành động
Quy định số 19-QĐ/TW ngày 8/4/2026 của Ban Chấp hành Trung ương về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng xác định những nội dung quan trọng, từ thống nhất nhận thức và hành động về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đến tầm nhìn và mục tiêu chiến lược trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Trong mạch nội dung ấy, xây dựng văn hóa trong Đảng gắn với yêu cầu hình thành đội ngũ cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị, đạo đức cách mạng, tinh thần tiên phong, gương mẫu, liêm chính và kỷ luật.
Sự thống nhất về nhận thức phải dẫn đến sự thống nhất trong hành động. Những mục tiêu lớn của đất nước chỉ có thể trở thành động lực chung khi cán bộ, đảng viên hiểu rõ ý nghĩa công việc mình đang làm, nhận thức được trách nhiệm của bản thân và biết đặt lợi ích chung lên trên sự thuận tiện riêng. Tinh thần tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc vì thế cần được thể hiện bằng năng lực chủ động giải quyết vấn đề, dám đổi mới trong khuôn khổ nguyên tắc, làm việc có kỷ luật và không trông chờ, đùn đẩy.
Tinh thần đặt lợi ích chung lên trước cũng có thể được nhìn thấy trong quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy. Như trường hợp ông Nguyễn Quốc Hữu, nguyên Trưởng ban Tuyên giáo Huyện ủy, Giám đốc Trung tâm Chính trị huyện Na Hang, Tuyên Quang, chủ động xin nghỉ hưu trước tuổi nhằm tạo thuận lợi cho việc sắp xếp và mở cơ hội phát triển cho cán bộ trẻ. Đây là một trường hợp cụ thể về trách nhiệm nêu gương trong giai đoạn tổ chức bộ máy có nhiều thay đổi.
Mỗi người có hoàn cảnh và điều kiện riêng, không thể lấy một quyết định cá nhân làm khuôn mẫu áp dụng cho tất cả. Nhưng câu chuyện của ông Quốc Hữu gợi ra yêu cầu về tinh thần trách nhiệm trong những thời điểm cần thay đổi vì lợi ích chung: nêu gương không chỉ là hoàn thành tốt công việc được giao, mà còn là nhận thức rõ vai trò của mình trong yêu cầu chung của tổ chức và đất nước.
Nội hàm văn hóa trong Đảng được Quy định 19 đề cập cũng rộng hơn những chuẩn mực ứng xử thông thường. Văn bản nhấn mạnh việc phát huy giá trị văn hóa Việt Nam, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại để xây dựng văn hóa lãnh đạo, văn hóa công vụ; bồi dưỡng lòng yêu nước, yêu đồng bào và tinh thần phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân. Những giá trị ấy cần kết tinh trong phong cách lãnh đạo có trách nhiệm, lối sống liêm chính, cách ứng xử có tình có lý, tinh thần tôn trọng kỷ cương và ý thức đặt lợi ích của đất nước, của Nhân dân vào vị trí trung tâm khi thực hiện nhiệm vụ.
Đặt Quy định 19 trong mạch các văn bản về xây dựng, chỉnh đốn Đảng sẽ thấy sự tiếp nối những yêu cầu đã được xác lập qua nhiều giai đoạn. Kết luận số 21-KL/TW năm 2021 nhấn mạnh nhiệm vụ đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, ngăn chặn suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống cùng những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Quy định số 144-QĐ/TW năm 2024 xác lập các chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới; Chỉ thị số 05-CT/TW đặt yêu cầu học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Các văn bản có trọng tâm riêng nhưng đều hướng đến yêu cầu xây dựng Đảng gắn với rèn luyện con người, giữ nghiêm kỷ luật và đưa những giá trị được khẳng định vào thực tế.
Một cán bộ nói về liêm chính nhưng thiếu minh bạch trong công việc, thường xuyên nhắc đến trách nhiệm nhưng luôn tìm cách chuyển việc khó cho người khác, hay yêu cầu cấp dưới nghiêm túc trong khi bản thân tùy tiện về quy trình đều tạo ra khoảng cách giữa điều được nói và điều được làm. Nếu khoảng cách ấy kéo dài, sức thuyết phục của công tác chính trị, tư tưởng cũng khó tránh khỏi bị suy giảm.
Văn hóa lãnh đạo phải được thể hiện ở người đứng đầu
Trong một tổ chức, người đứng đầu không chỉ chịu trách nhiệm về kết quả công việc mà còn góp phần định hình cách mọi người suy nghĩ, trao đổi và hành động. Nếu lãnh đạo khuyến khích nói thật, lắng nghe phản biện và xử lý sai sót công bằng, cấp dưới sẽ có thêm động lực để chủ động đóng góp. Ngược lại, nếu ý kiến trái chiều thường bị xem là gây khó khăn, thành tích được đề cao hơn sự thật, tập thể rất dễ hình thành tâm lý im lặng và chọn phương án an toàn.
Văn hóa lãnh đạo phải bắt đầu từ cách sử dụng quyền lực. Người đứng đầu cần công khai nguyên tắc giải quyết công việc, phân định rõ trách nhiệm, đánh giá cấp dưới công bằng, không ưu ái người thân quen và không đẩy trách nhiệm xuống dưới khi có sai sót. Khi một quyết định chưa đúng, điều cần thiết là làm rõ nguyên nhân, sửa chữa hậu quả và rút kinh nghiệm, thay vì chỉ tìm người chịu lỗi hoặc cố bảo vệ quyết định ban đầu.
Nêu gương không có nghĩa là người lãnh đạo phải xuất hiện trong mọi hoạt động hay nói nhiều hơn người khác. Giá trị của sự nêu gương thể hiện rõ hơn khi người có chức vụ tuân thủ những quy định mà mình yêu cầu cấp dưới thực hiện, sẵn sàng nhận trách nhiệm trước tập thể, tôn trọng ý kiến chuyên môn và không dùng vị trí của mình để tạo đặc quyền.
Tuy nhiên, không thể chỉ trông chờ vào phẩm chất cá nhân. Văn hóa tổ chức cần được nuôi dưỡng bằng quy trình rõ ràng, cơ chế kiểm tra, giám sát thực chất và cách đánh giá cán bộ dựa trên kết quả công việc.
Nếu người làm tốt không được ghi nhận, người né tránh trách nhiệm vẫn bình yên, còn người dám đề xuất cách làm mới phải tự xoay xở khi gặp vướng mắc, những lời kêu gọi đổi mới khó tạo thành động lực bền vững. Kỷ luật phải nghiêm, việc thực thi kỷ luật cần công bằng; trách nhiệm phải rõ, đồng thời thẩm quyền và điều kiện thực hiện nhiệm vụ cũng cần được xác định minh bạch.
Bộ máy tinh gọn cần nền nếp văn hóa vững chắc
Trong quá trình sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy và đổi mới phương thức quản trị, hiệu quả vận hành không chỉ phụ thuộc vào sơ đồ tổ chức hay số lượng đầu mối, mà còn vào khả năng phối hợp, tinh thần trách nhiệm và chất lượng thực thi nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ. Bộ máy có thể gọn hơn nhưng nếu công việc vẫn bị đùn đẩy, thông tin không được chia sẻ, cấp dưới ngại quyết định và cấp trên không kịp thời tháo gỡ vướng mắc thì hiệu quả khó cải thiện như mong muốn.
Các mô hình “Dân vận khéo” trong Đảng bộ Chính phủ cho thấy việc gần dân, sát dân đang được triển khai trên nhiều lĩnh vực, từ cải cách hành chính, số hóa hồ sơ đến hỗ trợ người dân sử dụng dịch vụ công trực tuyến và tăng cường đối thoại. Theo thông tin công bố tại hội nghị ngày 22/9/2026, toàn Đảng bộ có gần 400 mô hình được đăng ký, công nhận từ năm 2025 đến thời điểm đó; 183 mô hình, cách làm đang được áp dụng hiệu quả.
Những con số ấy phản ánh quy mô triển khai, nhưng điều quyết định vẫn là kết quả ở từng nơi: thủ tục có thuận tiện hơn không, vướng mắc có được giải quyết nhanh hơn không, người dân có nhận được thông tin rõ ràng và sự hỗ trợ cần thiết không. Một hồ sơ chậm có thể do quy định chưa rõ, phần mềm gặp trục trặc hoặc sự phối hợp giữa các bộ phận chưa thông suốt; điều người dân cần là được giải thích nguyên nhân, thông báo tiến độ và biết rõ trách nhiệm xử lý. Khi các bộ phận chủ động kết nối, cùng tháo gỡ vướng mắc thay vì chỉ nhìn phần việc của mình, văn hóa tổ chức được thể hiện qua chất lượng phục vụ.
Văn hóa trong Đảng còn thể hiện ở cách cán bộ tiếp nhận và xử lý thông tin trong môi trường số. Quy định 19 yêu cầu đổi mới phương thức công tác tư tưởng, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, nâng cao năng lực truyền thông chính trị hiện đại, chủ động nắm bắt, phân tích và dự báo diễn biến tư tưởng, tâm trạng xã hội, kịp thời định hướng dư luận trước những vấn đề phức tạp, nhạy cảm. Đây không đơn thuần là yêu cầu sử dụng công nghệ, mà còn đòi hỏi khả năng lắng nghe xã hội, cung cấp thông tin chính xác, phản hồi có trách nhiệm và giải thích những vấn đề người dân quan tâm.
Trên không gian mạng, thông tin sai lệch có thể lan truyền nhanh, nhưng sự chậm trễ, né tránh hoặc cách trả lời thiếu thuyết phục cũng có thể khiến khoảng trống thông tin rộng thêm. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch vì thế cần đi cùng việc nâng cao chất lượng thông tin chính thống, chủ động giải đáp những vấn đề thực tiễn và giữ sự thống nhất giữa thông điệp với hành động. Cán bộ, đảng viên cần kiểm chứng thông tin trước khi chia sẻ, giữ kỷ luật phát ngôn và phản hồi bằng lý lẽ có căn cứ, tránh để cảm xúc nhất thời chi phối cách ứng xử.
Để văn hóa trở thành sức mạnh tự thân
Văn hóa trong Đảng không thể được tạo dựng chỉ trong một đợt sinh hoạt hay bằng một bộ tiêu chí dùng chung cho mọi cơ quan, đơn vị. Mỗi nơi có tính chất công việc khác nhau, nhưng đều cần xác định rõ chuẩn mực phải giữ nghiêm, hành vi không thể chấp nhận, trách nhiệm của người đứng đầu và kết quả nào cho thấy việc rèn luyện đã tạo ra chuyển biến thực chất.
Việc học tập, quán triệt cần gắn với những tình huống cán bộ thường gặp trong công việc: xử lý bất đồng về thẩm quyền, sửa sai khi hồ sơ đã trình ký, tiếp nhận ý kiến khác với lãnh đạo hay giải quyết phản ánh của người dân. Những trao đổi như vậy giúp mỗi người hiểu rằng chuẩn mực không phải khái niệm xa vời, mà là căn cứ để lựa chọn cách hành xử trong tình huống thật.
Cùng với giáo dục phải có kiểm tra, giám sát và đánh giá bằng kết quả. Người tận tụy cần được nhìn nhận qua chất lượng công việc, tinh thần phối hợp, cách giải quyết phản ánh và khả năng sửa chữa thiếu sót; người đứng đầu phải chịu trách nhiệm khi để tình trạng trì trệ kéo dài mà không có biện pháp khắc phục. Đánh giá cán bộ cũng không nên chỉ dựa vào báo cáo thành tích hay những chỉ tiêu dễ đo đếm, bởi có những biểu hiện quan trọng của văn hóa nằm ở sự công tâm, tính minh bạch, khả năng lắng nghe và cách ứng xử khi phát sinh vấn đề.
Giáo dục giúp cán bộ hiểu điều gì cần làm và vì sao phải làm; kỷ luật xác lập ranh giới giữa đúng và sai; nêu gương khơi dậy mong muốn làm theo; còn cơ chế tổ chức bảo đảm những việc tốt được duy trì, lan tỏa. Các yếu tố ấy cần đi cùng nhau để văn hóa không phụ thuộc vào sự nhiệt tình nhất thời của một cá nhân, mà trở thành nề nếp của tập thể.
Nhìn lại toàn bộ mạch vấn đề của Quy định 19, từ thống nhất nhận thức về con đường phát triển đất nước, rèn luyện đạo đức và bản lĩnh chính trị, ngăn ngừa những lệch chuẩn trong hành vi đến đổi mới công tác tư tưởng trong môi trường số, các yêu cầu đều hướng tới mục tiêu xây dựng tổ chức đảng vững mạnh và đội ngũ cán bộ, đảng viên đủ phẩm chất, năng lực để thực hiện trách nhiệm trước Đảng, đất nước và Nhân dân. Công tác chính trị, tư tưởng chỉ thực sự phát huy giá trị khi giúp con người hiểu đúng, lựa chọn đúng và hành động đúng, kể cả trong những tình huống khó khăn.
Văn hóa trong Đảng không thể đo bằng số lượng khẩu hiệu hay những bản cam kết hoàn thành đúng hạn, mà phải được nhận ra qua cách tổ chức đối diện với khó khăn, cách cán bộ sử dụng quyền hạn, cách tập thể đối thoại và cách người dân được đối xử. Khi việc khó không bị đùn đẩy, sai sót được nhận trách nhiệm và sửa chữa, ý kiến khác biệt được lắng nghe nghiêm túc, những chuẩn mực tưởng như trừu tượng đã bắt đầu có hình hài trong đời sống.
Đánh giá một cách tổng quát, công tác chính trị, tư tưởng chỉ thực sự phát huy ý nghĩa khi được thấm sâu vào nhận thức, bồi đắp bản lĩnh, hun đúc đạo đức và định hình cách hành động của mỗi cán bộ, đảng viên. Trên nền tảng lý tưởng được kiên định, chuẩn mực được tự giác thực hành và kỷ luật được nghiêm túc giữ gìn, văn hóa trong Đảng trở thành nguồn sức mạnh nội sinh, giúp Đảng không ngừng tự đổi mới, tự chỉnh đốn, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu.
Giá trị ấy không nằm ở những lời khẳng định, mà được đo bằng sự thống nhất giữa lời nói và việc làm, giữa chủ trương và kết quả, giữa trách nhiệm của người cán bộ với niềm tin của Nhân dân. Bởi sau cùng, sức sống của văn hóa trong Đảng phải được bồi đắp từ bên trong mỗi tổ chức, mỗi cán bộ, đảng viên và được khẳng định bằng những chuyển biến thiết thực trong đời sống, để tinh thần phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân luôn hiện hữu trong từng quyết định và hành động.