Chính sách cần chuyển mạnh từ hỗ trợ chung sang chính sách vi mô đột phá
Tại Diễn đàn “Kích hoạt tăng trưởng: Chính sách vi mô đột phá và mục tiêu hai con số” được tổ chức ngày 14/7, PGS.TS Phạm Anh Tuấn, Phó viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới cho biết, nhìn lại giai đoạn 1986 - 2025, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân theo từng giai đoạn 5 năm của Việt Nam chủ yếu duy trì trong khoảng 6 - 7%. Giai đoạn đạt mức tăng trưởng cao nhất là 1996 - 2000 với bình quân khoảng 8,9%.
Trên nền tảng đó, mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân trên 10% trong giai đoạn 2026 - 2030 cần dựa nhiều hơn vào năng suất, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chất lượng doanh nghiệp và hiệu quả thị trường, chứ không chỉ dựa vào mở rộng vốn, lao động và khai thác lợi thế chi phí thấp như trước.
Thực tế, Việt Nam đang có nhiều lợi thế trong quá trình tăng trưởng. Theo ông Tuấn, xu hướng dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu đang giúp Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn của các tập đoàn đa quốc gia, tạo điều kiện để tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Cùng với đó, mạng lưới các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới như EVFTA, CPTPP tiếp tục tạo dư địa mở rộng thị trường xuất khẩu, đa dạng hóa đối tác và nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp.
Đặc biệt, làn sóng đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thế hệ mới không chỉ mang theo nguồn vốn mà còn đi kèm công nghệ, kỹ năng quản trị và kinh nghiệm sản xuất hiện đại, góp phần nâng cao năng suất lao động và chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam trong những năm tới.
“Để kích hoạt tăng trưởng, chính sách cần chuyển mạnh từ hỗ trợ chung sang chính sách vi mô đột phá, tập trung tháo gỡ rào cản thể chế, giảm chi phí tuân thủ, mở rộng tiếp cận nguồn lực, thúc đẩy đổi mới công nghệ và nâng cấp năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp”, ông Tuấn nói.
Hỗ trợ phát triển năng lực của doanh nghiệp theo giai đoạn
Một trong những động lực tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam đến từ khu vực doanh nghiệp. Theo ông Phạm Anh Tuấn, doanh nghiệp Việt Nam vừa là đối tượng chịu tác động của biến động kinh tế trong nước và quốc tế, vừa là chủ thể trung tâm quyết định khả năng hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cao.
Đề xuất một số định hướng chính sách vi mô cho doanh nghiệp, PGS.TS Phạm Anh Tuấn cho rằng, trước hết, chính sách cần hỗ trợ phát triển năng lực của doanh nghiệp theo từng giai đoạn.
Theo ông, nền kinh tế hiện nay cần có sự tham gia của nhiều loại hình doanh nghiệp. Trong đó, các hộ kinh doanh và doanh nghiệp siêu nhỏ góp phần bảo đảm sinh kế và an sinh xã hội; các doanh nghiệp nhỏ và vừa tạo công ăn, việc làm và góp phần bảo đảm sự cân đối trong hệ thống doanh nghiệp; các doanh nghiệp lớn có khả năng tăng trưởng cao và được kỳ vọng trở thành những lực lượng lớn của nền kinh tế.
Bên cạnh đó, nền kinh tế cũng cần những doanh nghiệp đóng vai trò tiên phong, dẫn dắt, có năng lực cạnh tranh toàn cầu và đại diện cho nền kinh tế Việt Nam tham gia thị trường quốc tế.
Mục tiêu đặt ra là doanh nghiệp siêu nhỏ có thể phát triển thành doanh nghiệp nhỏ và vừa; doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể phát triển thành doanh nghiệp lớn; doanh nghiệp lớn có thể trở thành những doanh nghiệp có năng lực dẫn dắt trong khu vực và trên thế giới.
Do đó, các chính sách hướng đến mục tiêu này không thể chỉ mang tính ngắn hạn. Để doanh nghiệp phát triển từ quy mô thấp lên quy mô cao hơn cần có thời gian, đồng thời phải bảo đảm năng lực của doanh nghiệp được cải thiện một cách thực chất, thay vì chỉ triển khai những chính sách hỗ trợ ngắn hạn.
Để thực hiện mục tiêu đó, lãnh đạo Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới kiến nghị 6 nhóm chính sách vi mô cần được đặc biệt quan tâm.
Đó là tiếp tục cải cách thể chế, giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp; khơi thông các nguồn lực cho doanh nghiệp; phát triển thị trường vốn cho toàn bộ hệ thống doanh nghiệp; có chính sách thuế nhằm hỗ trợ đầu tư, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; phát triển dữ liệu và hạ tầng số; nâng cao năng lực hấp thụ của doanh nghiệp trong nước.
PGS.TS Phạm Anh Tuấn nhấn mạnh, tăng trưởng cao, hay mục tiêu tăng trưởng 2 con số, phải dựa trên hai động lực căn bản là nâng cao năng suất lao động và nâng cao năng lực của doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp trong nước.
Chuyên gia nhấn mạnh, trong bối cảnh quốc tế có nhiều biến động, thay đổi và thách thức, cần kích hoạt khả năng tồn tại, lớn lên, đổi mới và tham gia vào các chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu của doanh nghiệp.
“Phát triển doanh nghiệp là câu chuyện dài hạn, không thể chỉ dựa vào những biện pháp hỗ trợ ngắn hạn để giải quyết”, ông Phạm Anh Tuấn nhấn mạnh.