Điều chỉnh kích thước chữ

Tổng Cục Thuế lý giải về việc áp dụng mức thuế trần đối với hoạt động cho thuê nhà

(CLO) Theo Tổng Cục Thuế, mặc dù thuế suất đối với hoạt động cho thuê bất động sản ở mức cao hơn so với các loại hình kinh doanh dịch vụ khác, song đã trừ nhiều yếu tố mang tính lưu trú.

Audio

Mới đây, UBND TP.HCM và Hà Nội đã có công văn, gửi Cục Thuế các địa phương siết chặt việc quản lý thuế trong hoạt động cho thuê nhà, cho thuê căn hộ trên địa bàn thành phố.

Trong đó, UBND TP.HCM đề xuất thí điểm việc thu thuế giá trị gia tăng (GTGT) 5% và thuế thu nhập doanh nghiệp (TNCN) 5% tại 5 khu chung cư tại quận 11. Như vậy, chủ căn hộ có hoạt động cho thuê sẽ phải chịu 10% trên tổng giá thuê nhà.

Nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng, ngành thuế áp dụng mức thu 10% đối với hoạt động cho thuê nhà, cho thuê căn hộ là cao.

Nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng, ngành thuế áp dụng mức thu 10% đối với hoạt động cho thuê nhà, cho thuê căn hộ là cao.

Tuy nhiên, nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng, ngành thuế áp dụng mức thu 10% đối với hoạt động cho thuê nhà, cho thuê căn hộ là cao. Bởi, nhiều ngành nghề dịch vụ khách, mức thuế phải đóng của doanh nghiệp dao động từ 4,5% - 7%.

Bên cạnh đó, nhiều cá nhân bỏ tiền tỷ để đầu tư bất động sản cho thuê phải chịu thuế mà không được trừ bất kỳ khoản chi phí nào là không hợp lý.

Trả lời về vấn đề này, bà Tạ Thị Phương Lan, Phó Vụ trưởng Vụ trưởng Vụ Quản lý thuế doanh nghiệp nhỏ, vừa và hộ kinh doanh, cá nhân (Tổng cục Thuế) cho rằng: Theo quy định của Luật thuế GTGT và Luật thuế TNCN, các cá nhân kinh doanh có mức doanh thu từ 100 triệu trở xuống không thuộc diện chịu thuế. 

Các trường hợp cá nhân có bất động sản cho thuê có doanh thu trên 100 triệu đồng/năm (trên 8,3 triệu đồng/tháng) được xác định là đối tượng phải kê khai, nộp thuế.

Đồng thời, theo quy định tại Biểu thuế ban hành kèm theo Thông tư số 92/2015/TT-BTC ngày 15/6/2015 của Bộ Tài chính thì hoạt động cho thuê tài sản không kèm theo dịch vụ lưu trú chịu thuế 10% (GTGT 5%, TNCN 5%).

Dịch vụ lưu trú không tính vào hoạt động cho thuê tài sản gồm: Cung cấp cơ sở lưu trú ngắn hạn cho khách du lịch, khách vãng lai; cung cấp cơ sở lưu trú dài hạn cho sinh viên, công nhân và những đối tượng tương tự; cung cấp cơ sở lưu trú cùng dịch vụ ăn uống và các phương tiện giải trí.

Dịch vụ lưu trú không bao gồm: Cung cấp cơ sở lưu trú dài hạn được coi như cơ sở thường trú như cho thuê căn hộ hàng tháng hoặc hàng năm được phân loại trong ngành bất động sản theo quy định của pháp luật về hệ thống ngành kinh tế của Việt Nam.

Như vậy, mặc dù thuế suất đối với hoạt động cho thuê bất động sản ở mức cao hơn so với các loại hình kinh doanh dịch vụ khác, nhưng đã loại trừ các hoạt động mang tính lưu trú, các hoạt động cho thuê đối với những đối tượng yếu thế trong xã hội như sinh viên, công nhân và những đối tượng tương tự.

Những trường hợp cho thuê bất động sản thuộc diện chịu thuế 10% đều được xác định là những trường hợp kinh doanh bất động sản (theo Luật kinh doanh bất động sản). 

Việc kinh doanh bất động sản theo hình thức cho thuê trong thời gian vừa qua mặc dù không bằng lãi tiết kiệm khi để tiền ngân hàng, khách hàng thuê không ổn định nhưng vẫn thu hút nhiều cá nhân có tiền nhàn rỗi hoặc tiền vay (nhưng khả năng trả nợ tiền vay tốt) đầu tư vào lĩnh vực này vì cái được lớn nhất là có được tài sản để dành, sở hữu lâu dài và tài sản đó có thể đem lại dòng tiền ổn định theo năm tháng, không bị mất giá, thậm chí là tài sản tích lũy.

Việc đặt vấn đề tính toán các khoản chi phí cho hoạt động cho thuê bất động sản (tiền mua bất động sản, chi phí lãi vay, ...) là không phù hợp vì phải tính đến các yếu tố sở hữu bất động sản lâu dài, bất động sản có thể tăng giá trong tương lai. 

Đối với hoạt động cho thuê thông thường chỉ có thể tính đến các chi phí mang tính phát sinh thường xuyên trong thời gian cho thuê hoặc để phục vụ cho mục đích cho thuê (chi phí bảo trì, bảo dưỡng, sửa chữa, lắp đặt thiết bị nội thất...).

Để xử lý vấn đề không được trừ chi phí hợp lý như nêu trên của cá nhân cho thuê bất động sản, chính sách thuế đã xây dựng mức thuế của cá nhân thấp hơn so với doanh nghiệp.

 Cụ thể: thuế GTGT của cá nhân là 5% trong khi của doanh nghiệp là 10%; thuế TNCN của cá nhân là 5% trong khi thuế TNDN của doanh nghiệp là 20% trên chênh lệch (doanh thu trừ (-) chi phí).

Khẳng định về việc điều chỉnh ngưỡng doanh thu chịu thuế, bà Tạ Thị Phương Lan khẳng định, Tổng cục Thuế luôn tiếp thu và ghi nhận ý kiến của các chuyên gia. 

Hiện nay, Tổng cục Thuế đang nghiên cứu để đề xuất với Bộ Tài chính xem xét báo cáo Chính phủ trình Quốc hội nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế trong chương trình sửa Luật thuế GTGT trong thời gian tới để phù hợp với tình hình thực tế. 

Việt Vũ