Sáng 29/10, tại Kỳ họp thứ sáu, kỳ họp chuyên đề HĐND TP.HCM khóa XI, nhiệm kỳ 2026–2031, các đại biểu xem xét Quy hoạch tổng thể TP.HCM thời kỳ 2025–2050, tầm nhìn 100 năm, cùng nhiều nội dung quan trọng về cơ chế, chính sách và đầu tư phát triển Thành phố.
Phát biểu khai mạc kỳ họp, ông Nguyễn Văn Minh, Chủ tịch HĐND TP.HCM, nhấn mạnh sau khi sắp xếp địa giới hành chính, Thành phố có không gian phát triển rộng lớn hơn, với nhiều tiềm năng và dư địa mới. Tuy nhiên, quy mô phát triển cũng đặt ra yêu cầu cao hơn về chất lượng tăng trưởng, hạ tầng kết nối, quản trị đô thị, bảo vệ môi trường và nâng cao đời sống người dân.
Theo ông Nguyễn Văn Minh, trách nhiệm của Thành phố là nhanh chóng chuyển tiềm năng thành động lực, cơ chế thành hành động, nguồn lực thành kết quả; phấn đấu đạt tăng trưởng hai con số gắn với phát triển bền vững, bao trùm và nâng cao chất lượng sống.
Kỳ họp lần này xem xét 47 tờ trình, dự thảo nghị quyết, tập trung vào ba nhóm vấn đề lớn gồm quy hoạch định hình tầm nhìn và không gian phát triển; thể chế tạo động lực, tháo gỡ điểm nghẽn; ngân sách, đầu tư công và các công trình, dự án trọng điểm.
Chủ tịch HĐND TP.HCM yêu cầu quy hoạch bảo đảm cơ sở khoa học, tính đồng bộ, xác định rõ các cực tăng trưởng, dự án ưu tiên và lộ trình thực hiện; đồng thời đánh giá kỹ tính khả thi của 17 dự thảo nghị quyết cụ thể hóa Luật Phát triển đô thị. Thành phố sẽ xem xét phân bổ chi thường xuyên năm 2027, điều chỉnh đầu tư công trung hạn 2026–2030, ưu tiên các công trình cấp thiết, tránh đầu tư dàn trải, lãng phí và bảo đảm nghị quyết được triển khai hiệu quả, gắn kết quy hoạch, thể chế và nguồn lực phát triển.
Định hình siêu đô thị đa cực, đa trung tâm
Báo cáo tại kỳ họp, ông Nguyễn Mạnh Cường, Phó Chủ tịch UBND TP.HCM, cho biết việc lập Quy hoạch tổng thể sau hợp nhất địa giới hành chính nhằm tích hợp quy hoạch của ba địa phương, thống nhất tổ chức không gian, phân bổ nguồn lực và phát triển hạ tầng liên vùng. Quy hoạch hướng đến khắc phục tình trạng chồng lấn, thiếu đồng bộ, tăng cường kết nối giữa đô thị, công nghiệp, cảng biển và hạ tầng, trên cơ sở các nghị quyết của Trung ương và định hướng phát triển TP.HCM giai đoạn 2025–2030.
Trong quá trình xây dựng quy hoạch, TP.HCM đã tổng hợp hơn 1.526 ý kiến góp ý đến ngày 11/9/2026, trong đó tiếp thu 966 ý kiến. Thành phố đặt mục tiêu đến năm 2030 trở thành đô thị văn minh, hiện đại, nổi bật ở Đông Nam Á; đến năm 2045 là trung tâm kinh tế, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của châu Á, hướng tới đô thị toàn cầu từ năm 2075. Mô hình phát triển được định hướng theo cấu trúc siêu đô thị đa cực, đa trung tâm, gồm 5 cực động lực, 5 trung tâm vệ tinh, 5 hệ liên kết chiến lược và 10 vùng quản trị phát triển.
Trong đó, 5 cực động lực gồm lõi trung tâm dịch vụ tài chính quốc tế; khu vực đổi mới sáng tạo phía Đông; công nghiệp, công nghệ cao và logistics phía Bắc; cảng biển, thương mại tự do, logistics quốc tế và năng lượng phía Nam; đô thị, giáo dục và y tế phía Tây.
Các trung tâm vệ tinh được xác định tại Côn Đảo, Long Hải – Hồ Tràm, Hóc Môn – Củ Chi, Bàu Bàng và Tân Uyên – Bắc Tân Uyên.
Hạ tầng kết nối, mở rộng không gian tăng trưởng
Một nội dung đáng chú ý của quy hoạch là tổ chức lại không gian đô thị theo hướng tích hợp, phát triển phù hợp với điều kiện tự nhiên và sức chịu tải của môi trường.
Thành phố định hướng ưu tiên phát triển đô thị nén gắn với giao thông công cộng, đặc biệt tại các đầu mối giao thông theo mô hình phát triển đô thị gắn với giao thông công cộng (TOD). Đồng thời, quy hoạch không gian mặt đất, không gian ngầm và không gian trên cao nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất.
Diện tích đất xây dựng toàn Thành phố dự kiến đạt khoảng 280.000–290.000 ha vào năm 2030, với chỉ tiêu bình quân 150–155 m²/người. Đến năm 2050, diện tích này dự kiến tăng lên khoảng 365.000–390.000 ha, với chỉ tiêu bình quân 135–140 m²/người.
Quy hoạch đến năm 2050 đặt mục tiêu hoàn thành 18 tuyến đường sắt đô thị dài khoảng 961 km và 450 km đường sắt nhẹ, phát triển giao thông đa phương thức gắn với đô thị TOD, nâng tỷ lệ vận tải hành khách công cộng lên 55–65%. Thành phố cũng tăng cường kết nối đường bộ, đường thủy với cảng Cái Mép – Thị Vải, kết hợp vận tải và du lịch đường sông. Đồng thời, quy hoạch chú trọng chống ngập, kiểm soát sụt lún, thích ứng biến đổi khí hậu và hình thành không gian kinh tế biển liên hoàn từ Cần Giờ, Cái Mép – Thị Vải đến Vũng Tàu, Côn Đảo, phát triển cảng biển, logistics, công nghiệp công nghệ cao, năng lượng và du lịch.