80 năm kinh tế Việt Nam: Thành tựu lớn từ tư duy độc lập, tự chủ

(NB&CL) 80 năm kể từ ngày giành độc lập, nền kinh tế Việt Nam đã đi một hành trình đặc biệt: từ nền kinh tế nông nghiệp tự cấp tự túc, qua những năm tháng gian khổ thời chiến và thời kỳ bao cấp, đến giai đoạn chuyển mình mạnh mẽ trong công cuộc Đổi mới và hội nhập. Mỗi giai đoạn đều để lại dấu ấn sâu đậm về mô hình quản lý, tư duy phát triển và lựa chọn con đường đi lên.

Nắm vận hội để BỨT TỐC!

Từ một quốc gia non trẻ với nền kinh tế kiệt quệ, hôm nay Việt Nam đã vươn lên nhóm 4 nền kinh tế lớn nhất Đông Nam Á, đứng thứ 33 thế giới. Nhìn lại tổng thể hành trình 80 năm qua, những thành tựu mà nền kinh tế của Việt Nam đã đạt được là rất to lớn. Trong chuyên đề số đặc biệt này, Nhà báo và Công luận khắc họa bức tranh toàn cảnh kinh tế Việt Nam qua góc nhìn sắc bén của các chuyên gia, vào thời khắc cả dân tộc cần xác lập những bước đi quyết đoán để vươn mình hội nhập sâu rộng, khẳng định vị thế xứng tầm giữa năm châu bốn biển.

Nhân kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9, Báo Nhà báo và Công luận có cuộc trao đổi với PGS.TS. Lê Bộ Lĩnh - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược Kinh tế, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội về hành trình 80 năm phát triển kinh tế Việt Nam, những bài học xuyên suốt từ quá khứ đến hiện tại và những kỳ vọng vào “kỷ nguyên vươn mình” trong bối cảnh mới.

+ Thưa ông, xin ông chia sẻ góc nhìn tổng quan về sự phát triển kinh tế Việt Nam trong suốt 80 năm qua?

- Nhìn tổng quan kinh tế Việt Nam trong 80 năm qua là một điều đầy kiêu hãnh, nhưng cũng không dễ dàng. Muốn đánh giá quá trình phát triển kinh tế Việt Nam trong 80 năm qua, chúng ta cần có cách tiếp cận toàn diện.

Theo tôi, đây là một công việc lớn, một công trình nghiên cứu chuyên sâu về 80 năm phát triển kinh tế, do đó rất cần có sự tham gia của các chuyên gia và là một công việc cần thiết trong dịp kỷ niệm 80 năm thành lập đất nước. Công trình này không chỉ để nhìn lại quá khứ, quan trọng hơn là để xác định xu hướng phát triển đến năm 2045, tức mốc 100 năm thành lập đất nước.

Việt Nam là một trong những quốc gia có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất
Việt Nam là một trong những quốc gia có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất

Trở lại cột mốc 80 năm phát triển kinh tế, tôi cho rằng có thể tiếp cận từ hai góc độ. Thứ nhất, phải đặt sự phát triển của kinh tế Việt Nam trong dòng chảy chung của kinh tế thế giới. Thứ hai, nhìn nhận tiến trình phát triển kinh tế Việt Nam gắn liền với lịch sử dân tộc.

Bởi lẽ, từ năm 1945 đến nay, kinh tế thế giới trải qua những giai đoạn chuyển đổi rất căn bản. Năm 1945 không chỉ là mốc quan trọng với Việt Nam mà là mốc của cả thế giới, đây là thời điểm kết thúc Chiến tranh Thế giới thứ hai, mở ra thời kỳ phân cực Đông – Tây, dẫn tới sự đối đầu giữa hai mô hình: kinh tế kế hoạch hóa tập trung, gồm các nước xã hội chủ nghĩa và kinh tế thị trường, bao gồm các nước tư bản chủ nghĩa.

Sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, thế giới chuyển sang thời kỳ Chiến tranh lạnh, tuy không trực tiếp đối đầu như thời kỳ chiến tranh “nóng” nhưng không kém phần gay gắt bởi bản chất của Chiến tranh lạnh là chạy đua quân sự và khoa học kỹ thuật, kinh tế để giành ưu thế.

Ở phía tư bản, nước Mỹ tiếp tục khẳng định vị trí thống trị trong thế kỷ XX và là nước được lợi trong Chiến tranh thế giới lần thứ 2. Quốc gia này tiếp tục tập trung vào khoa học công nghệ để khẳng định vai trò lãnh đạo thế giới, về mặt quân sự, kinh tế cũng như khoa học công nghệ.

Trong khi đó, Nhật Bản và Tây Đức, hai nước bại trận trong Thế chiến thứ 2 lại trở thành các quốc gia có bước phục hồi kinh tế “ngoạn mục”, tạo nên những “kỳ tích” kinh tế, góp phần hình thành ba trung tâm kinh tế lớn của thế giới: Mỹ, Nhật Bản và Tây Âu, trong đó Tây Đức là nền kinh tế đầu tàu.

Mặt khác, cuộc Cách mạng khoa học kỹ thuật cũng giúp một số quốc gia và vùng lãnh thổ Châu Á đi theo kinh tế thị trường bứt phá lên, được gọi là các “nền kinh tế công nghiệp mới” (NICs), bao gồm: Hàn Quốc, Singapore, Hồng Kông, Đài Loan, Thái Lan, Malaysia.

Ở khối xã hội chủ nghĩa, đứng đầu là Liên Xô, cũng đã có những bước chuyển mình mạnh mẽ vào những thập niên đầu sau chiến tranh. Bên cạnh Liên Xô, Đông Đức và các nước Đông Âu cũng có tốc độ công nghiệp hóa tập trung rất mạnh, đặc biệt là trong giai đoạn 1970 - 1980, điều này giúp khối xã hội chủ nghĩa tạo thế cân bằng so với khối tư bản chủ nghĩa.

Thế nhưng, từ những năm 80 của thế kỷ XX, các nước thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa lâm vào khủng hoảng về mô hình phát triển. Việc đi theo kinh tế kế hoạch hóa tập trung tuy có ý nghĩa nhất định sau Chiến tranh Thế giới lần thứ 2, nhưng sau đó lại bộc lộ những hạn chế, dẫn đến khủng hoảng cuối những năm 1980, sự sụp đổ của thế giới hai cực và sự chấm dứt của thời kỳ Chiến tranh Lạnh vào đầu những năm 1990.

Sau đó, thế giới bước vào kỷ nguyên hội nhập, toàn cầu hóa mạnh mẽ, tái lập nền kinh tế thế giới thống nhất với vai trò của tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), kéo dài đến đầu thế kỷ XXI.

Dù vậy, toàn cầu hóa cũng dẫn đến các khủng hoảng như khủng hoảng tài chính, rạn nứt chuỗi cung ứng, chủ nghĩa dân tộc kinh tế nổi lên… Tất cả những điều đó cho thấy Việt Nam trong 80 năm qua đã liên tục chịu tác động từ biến động của kinh tế thế giới cả về mô hình và động thái phát triển.

a1.jpg
PGS.TS. Lê Bộ Lĩnh, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược Kinh tế, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội. Ảnh: TL

“Thế hệ chúng tôi, sinh ra trong hòa bình, lớn lên trong chiến tranh, rèn luyện trong bao cấp, trưởng thành trong Đổi mới, có thể cảm nhận sâu sắc nhất sự thay đổi của đất nước. Và cũng chính sự trải nghiệm đó giúp chúng tôi trân trọng hơn những gì đất nước đang có hôm nay”, PGS.TS. Lê Bộ Lĩnh chia sẻ.

+ Trong bối cảnh thế giới biến động như vậy, Việt Nam có những đặc điểm gì riêng biệt trong tiến trình phát triển kinh tế thế giới, thưa ông?

- Việt Nam là một nước đi lên từ nền kinh tế nông nghiệp, tiểu nông, tự cung tự cấp, từng là thuộc địa. Sau khi giành được độc lập vào năm 1945, thay vì tập trung phát triển kinh tế, chúng ta lại phải bước vào các cuộc kháng chiến lớn: chống Pháp, chống Mỹ, chiến tranh biên giới phía Bắc và Tây Nam.

Gần như nửa chặng đường của 80 năm, trong khi thế giới đang bước vào cạnh tranh kinh tế và khoa học công nghệ, chúng ta phải tập trung toàn lực cho chiến tranh, thống nhất đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Đây là điểm đặc thù, đồng thời cũng là trở ngại lớn khiến Việt Nam không thể tập trung hoàn toàn vào phát triển kinh tế sau khi giành được độc lập như một số nền kinh tế, như một quốc gia độc lập.

Như vậy, có thể chia chặng đường 80 năm phát triển kinh tế thành hai giai đoạn: 40 năm đầu là kinh tế thời chiến, nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, khép kín, phụ thuộc viện trợ. 40 năm sau là thời kỳ Đổi mới, phát triển theo mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.

+ Ông có thể phân tích kỹ hơn hai giai đoạn này?

- Sau khi giành độc lập vào năm 1945, Việt Nam mất thêm 10 năm nữa để kháng chiến chống Thực dân Pháp, buộc phải phụ thuộc vào viện trợ của các nước thuộc khối xã hội chủ nghĩa để có nguồn lực gồng mình kháng Pháp, giành được chiến thắng vĩ đại.

Giai đoạn năm 1954–1975, đất nước bị chia cắt. Miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội nhưng thực chất vẫn là kinh tế thời chiến, dành tất cả nguồn lực tập trung cho kháng chiến chống Mỹ, thống nhất đất nước.

Sau 1975, đất nước thống nhất, nhưng tiếp tục đối mặt với chiến tranh biên giới. Như vậy, 40 năm đầu khắc họa một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung thời chiến dựa trên nền tảng kinh tế vừa thoát khỏi thuộc địa, dựa trên nền nông nghiệp lạc hậu, công nghiệp kém phát triển và phụ thuộc viện trợ bên ngoài. Đấy là nền kinh tế đặc thù của giai đoạn đó.

Mặc dù trong điều kiện kinh tế như vậy, chúng ta vẫn đạt được những thành quả nhất định. Nếu không có những thành quả đó, ta sẽ không giành được những thắng lợi về quân sự và chính trị. Đó là kết quả của việc huy động toàn dân, toàn lực cho kháng chiến và cũng là thành công của mô hình phù hợp với bối cảnh lúc đó.

Đặt giả thiết khác, nếu chúng ta không có ảnh hưởng của các cuộc chiến tranh, với mô hình đó vẫn có thể có các thành tựu kinh tế lớn hơn, có những tiền đề tốt hơn như một số nước ở Đông Âu, Trung Quốc. Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng, về phương diện lý thuyết và thực tế kế hoạch hóa tập trung là mô hình kinh tế không bền vững, gây ra tình trạng thiếu hụt, trì trệ và dẫn tới khủng hoảng như ta đã thấy.

untitled-2.jpg
80 năm kể từ ngày giành độc lập, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu ấn tượng.

Việt Nam phải thoát khỏi những ràng buộc, hạn chế, điểm nghẽn về mặt thể chế, nền tảng khoa học công nghệ và hạ tầng mà 40 năm qua chưa vượt qua. Nếu chúng ta vẫn đi lên theo cách 40 năm vừa rồi chúng ta đi thì tốc độ sẽ chậm và không còn tương thích với kỷ nguyên phát triển của nhân loại.
Vì vậy, “Vươn mình” không chỉ là dấu hiệu của sự trưởng thành, mà còn là hiệu lệnh đổi mới sâu sắc. Phải vượt lên chính mình, bứt phá về tư duy, thể chế và hành động, thì mới có thể đón đầu được các cơ hội mới.

Từ năm 1986, trong xu hướng cải cách, cải tổ ở các nước xã hội chủ nghĩa, chúng ta bước vào kỷ nguyên Đổi mới và hội nhập. Những thành tựu đạt được trong 40 năm qua là rất ấn tượng; từ một đất nước thiếu lương thực trở thành quốc gia xuất khẩu gạo hàng đầu, từ một nền kinh tế quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường nhiều thành phần, sôi động; từ nền kinh tế khép kín trở thành một trong những nền kinh tế mở nhất thế giới, với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu vượt 200% GDP.

Cơ cấu kinh tế thay đổi rõ rệt, từ xuất khẩu nông sản thô sang các sản phẩm chế tạo. Nền kinh tế dân doanh phát triển mạnh mẽ, đóng vai trò lớn trong tăng trưởng, tạo việc làm. Cùng với đó là tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, tạo ra các thực thể kinh tế thị trường đa dạng. Việt Nam đã được 70 quốc gia công nhận là nền kinh tế thị trường.

Chúng ta cũng là nước tham gia nhiều hiệp định thương mại tự do (FTA) nhất, thu hút FDI mạnh mẽ và trở thành một mắt xích trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Tuy nhiên, 40 năm qua thế giới cũng bước vào cuộc cách mạng công nghệ mạnh mẽ, đặc biệt là công nghệ số, AI, dữ liệu lớn… và chúng ta chưa tận dụng tốt cơ hội đó, để bước vào kỷ nguyên mới, giai đoạn phát triển mới của dân tộc. Sự chuẩn bị của chúng ta về thể chế, hạ tầng, nguồn lực cho cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 còn chậm cũng một hạn chế lớn.

+ Trong suốt 80 năm phát triển, theo ông, bài học lớn nhất về phát triển kinh tế là gì?

- Bài học quan trọng nhất là phải có tư duy độc lập, tự chủ. Chỉ khi có tư duy độc lập, tự chủ mới có sáng tạo, ngược lại nếu cứ mãi phụ thuộc thì không có sáng tạo. Đây là tư duy xuyên suốt cả thời chiến và thời bình. Dù vậy, độc lập, tự chủ không có nghĩa là khép kín, mà là hiểu rõ mình và hoàn cảnh, từ đó định hình được đường lối phù hợp.

Ví dụ, sau khi Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, tình hình rất bất định. Trong hoàn cảnh đó, Việt Nam không sao chép mô hình từ nước ngoài, không theo “liệu pháp sốc”, mà lựa chọn đổi mới theo cách riêng, đó là cải cách từ thực tiễn, như khoán hộ trong nông nghiệp, tự do hóa nền kinh tế, quan hệ thương mại với thế giới mà không biệt chế độ chính trị,…

Chính tư duy độc lập, tự chủ đó đã tạo thành “thương hiệu” riêng của Việt Nam, giúp chúng ta vượt qua khủng hoảng và duy trì ổn định.

Về đường lối chính sách xuyên suốt, có hai động lực quan trọng là chuyển sang kinh tế thị trường và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế. Chính hai động lực, hai xu hướng lớn này làm thay đổi diện mạo và cơ cấu nền kinh tế Việt Nam 40 năm qua.

+ Thưa ông, với những chuyển biến mạnh mẽ trong và ngoài nước hiện nay, chúng ta đang nói tới việc Việt Nam đang bước vào “Kỷ nguyên Vươn mình”. Khái niệm này mang ý nghĩa gì trong bối cảnh phát triển hiện tại?

- Theo tôi, “kỷ nguyên vươn mình” không chỉ mang ý nghĩa nội tại của Việt Nam, mà còn phản ánh bước chuyển mình của cả nhân loại trong kỷ nguyên số, cách mạng trí tuệ nhân tạo, tự động hóa, khác xa với các cuộc cách mạng công nghiệp trước đây.

Kỷ nguyên phát triển mới mang tính thời đại, một thời kỳ thay đổi lớn mang tính cách mạng về công nghệ, thương mại và cả chính trị, xã hội với những thách thức về phát triển bền vững.

Chúng ta đang đứng trước thách thức và thời cơ của một kỷ nguyên mang tính toàn cầu và yêu cầu đổi mới hơn nữa sau khi dư địa của giai đoạn trước dần cạn kiệt.

Và khi nói đó là “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”, hàm ý ở đây không chỉ là thời điểm, một giai đoạn lịch sử mới, sau khi chúng ta trải qua một giai đoạn tạo lập thế và lực, tạo ra những nền tảng nhất định trước một giai đoạn lịch sử mới của nhân loại mà hơn nữa đây còn như một hiệu lệnh.

Hiệu lệnh ở đây là vươn mình thoát khỏi trình độ phát triển thấp, thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình hay mắc kẹt trong trạng thái trì trệ, nói theo ngôn ngữ văn kiện là bị tụt hậu.

+ Xin cảm ơn ông!

Xem thêm

Ngưỡng 20.000 tỷ đồng quá cao, VCCI đề nghị mở rộng cơ chế cho dự án BT

Ngưỡng 20.000 tỷ đồng quá cao, VCCI đề nghị mở rộng cơ chế cho dự án BT

(CLO) Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) vừa có văn bản góp ý đối với dự thảo Nghị định sửa đổi các Nghị định hướng dẫn Luật PPP, trong đó đề xuất điều chỉnh một số quy định tại Nghị định 257/2025/NĐ-CP nhằm tăng tính khả thi trong triển khai các dự án hợp đồng xây dựng - chuyển giao (BT).

Lào Cai phê duyệt dự án hầm Hàm Rồng 2.500 tỉ đồng

Lào Cai phê duyệt dự án hầm Hàm Rồng 2.500 tỉ đồng

(CLO) UBND tỉnh Lào Cai vừa phê duyệt chủ trương đầu tư dự án hầm đường bộ Hàm Rồng với tổng mức đầu tư 2.500 tỉ đồng. Công trình được kỳ vọng tạo thêm trục kết nối giữa Quốc lộ 4D và tỉnh lộ 152, góp phần giảm áp lực giao thông, mở rộng không gian phát triển đô thị và du lịch tại Sa Pa.

Kiểm tra thuế điện tử: Người nộp thuế được giảm phiền hà, hạn chế sách nhiễu

Kiểm tra thuế điện tử: Người nộp thuế được giảm phiền hà, hạn chế sách nhiễu

(CLO) Việc kiểm tra thuế bằng phương thức điện tử giúp người nộp thuế có thể cung cấp hồ sơ, giải trình và làm việc với cơ quan thuế hoàn toàn trên môi trường số, không cần tiếp xúc trực tiếp trong phần lớn các trường hợp. Quy trình này không chỉ giúp tiết kiệm thời gian, chi phí đi lại mà còn góp phần nâng cao tính minh bạch, hạn chế phát sinh phiền hà, sách nhiễu trong quá trình kiểm tra thuế.

Muốn tăng trưởng bứt phá, Việt Nam cần một thị trường chứng khoán đủ sâu và đủ mạnh

Muốn tăng trưởng bứt phá, Việt Nam cần một thị trường chứng khoán đủ sâu và đủ mạnh

(CLO) Theo lãnh đạo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, một nền kinh tế không thể phát triển bền vững nếu thiếu một thị trường chứng khoán đủ lớn, đủ sâu và đủ mạnh, đồng thời việc nâng hạng thị trường không phải là đích đến mà là động lực để thúc đẩy cải cách toàn diện thị trường vốn.

Doanh nghiệp Nhật Bản và Hàn Quốc chỉ ra "chìa khóa" để Việt Nam thu hút FDI chất lượng cao

Doanh nghiệp Nhật Bản và Hàn Quốc chỉ ra "chìa khóa" để Việt Nam thu hút FDI chất lượng cao

(NB&CL) Các “ông lớn” đến từ Nhật Bản và Hàn Quốc đều đánh giá cao môi trường đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam. Đặc biệt, việc Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã tiếp tục củng cố niềm tin của các nhà đầu tư quốc tế vào triển vọng phát triển của Việt Nam.

AI 'Make in Vietnam': Kỳ vọng xuất hiện những doanh nghiệp công nghệ mới của Việt Nam

AI 'Make in Vietnam': Kỳ vọng xuất hiện những doanh nghiệp công nghệ mới của Việt Nam

(CLO) AI không còn là công nghệ của tương lai mà đã trở thành công cụ hiện diện trong mọi lĩnh vực của đời sống. Trong bối cảnh cuộc đua AI toàn cầu diễn ra ngày càng quyết liệt, Việt Nam đang đặt nhiều kỳ vọng vào thế hệ nhà sáng tạo trẻ có thể tạo ra những sản phẩm AI Make in Vietnam và những doanh nghiệp công nghệ mới trong tương lai.

Vì sao các nước vùng Vịnh rót hàng trăm tỷ USD vào châu Phi?

Vì sao các nước vùng Vịnh rót hàng trăm tỷ USD vào châu Phi?

(CLO) Hơn 100 tỷ USD đã được các nước vùng Vịnh rót vào châu Phi trong một thập kỷ qua, biến lục địa này thành một trong những điểm đến đầu tư chiến lược của Trung Đông. Đằng sau làn sóng vốn khổng lồ là mục tiêu đa dạng hóa nền kinh tế, đảm bảo nguồn cung nguyên liệu và mở rộng ảnh hưởng địa chính trị.

Vietnam AI Innovation Challenge 2026: Bệ phóng nhân lực AI chất lượng cao cho nền kinh tế số

Vietnam AI Innovation Challenge 2026: Bệ phóng nhân lực AI chất lượng cao cho nền kinh tế số

(CLO) Ngày 17/7, Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia (NIC) phối hợp cùng Meta, AI for Vietnam và các đối tác tổ chức Lễ phát động Chương trình Thách thức Đổi mới sáng tạo Việt Nam (Vietnam Innovation Challenge - VIC) 2026 và công bố kế hoạch đăng cai Cuộc thi Olympic Trí tuệ nhân tạo Quốc tế (International Artificial Intelligence Olympiad - IAIO) 2027.

Muốn hút 'đại bàng', đặc khu kinh tế Việt Nam cần nhiều hơn các ưu đãi

Muốn hút 'đại bàng', đặc khu kinh tế Việt Nam cần nhiều hơn các ưu đãi

(CLO) Các đặc khu kinh tế được kỳ vọng trở thành những cực tăng trưởng mới của Việt Nam trong giai đoạn phát triển tiếp theo. Tuy nhiên, trong bối cảnh cạnh tranh thu hút đầu tư toàn cầu ngày càng khốc liệt, chỉ riêng các chính sách ưu đãi là chưa đủ để thu hút những "đại bàng" công nghệ và dòng vốn chất lượng cao.

 Kinh tế tăng tốc, những mất cân đối nào đang tích tụ?

Kinh tế tăng tốc, những mất cân đối nào đang tích tụ?

(CLO) 6 tháng đầu năm 2026, kinh tế Việt Nam ghi nhận mức tăng trưởng cao nhất trong hơn hai thập niên. Tuy nhiên, theo TS. Nguyễn Đình Chúc, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới: Chính khi các chỉ số vĩ mô đang thuận lợi nhất này cần nhìn thẳng vào những vấn đề cơ cấu đang tích tụ phía sau bức tranh tăng trưởng để nhận diện đúng các thách thức và chuẩn bị dư địa cho giai đoạn phát triển tiếp theo.

Tăng trưởng 2 con số cần phương thức điều hành mới

Tăng trưởng 2 con số cần phương thức điều hành mới

(CLO) Kiên định với mục tiêu đưa nền kinh tế bước vào quỹ đạo tăng trưởng hai con số cho năm 2026 và cả giai đoạn 2026-2030, Lãnh đạo Đảng và Chính phủ đã có chỉ đạo mạnh mẽ về yêu cầu đổi mới toàn diện tư duy điều hành, nâng cao năng lực thực thi và tháo gỡ mọi rào cản nguồn lực. Trả lời phỏng vấn báo Nhà báo và Công luận, GS. Trần Thọ Đạt - Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo, Đại học Kinh tế Quốc dân đã phân tích về những điều kiện then chốt, những "nút thắt" cần tháo gỡ để biến quyết tâm chính trị thành động lực phát triển thực chất và bền vững

Kiên quyết xử lý tình trạng 'có tiền mà không tiêu được', hướng tới giải ngân 100% vốn đầu tư công

Kiên quyết xử lý tình trạng 'có tiền mà không tiêu được', hướng tới giải ngân 100% vốn đầu tư công

(CLO) Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số trong năm 2026, Chính phủ đã ban hành kịch bản tăng trưởng cho 6 tháng cuối năm với hàng loạt giải pháp quyết liệt. Đáng chú ý, Chính phủ yêu cầu kiên quyết điều chuyển vốn từ các bộ, ngành, địa phương giải ngân chậm, chấm dứt tình trạng "có tiền mà không tiêu được".

Cỡ chữ bài viết: