Một trong 10 dự án thành phần của Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2030, đó là giải quyết tình trạng thiếu đất ở, nhà ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt cho bà con vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Khi đóng góp ý kiến cho dự án Luật Đất đai (sửa đổi) tại Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XV, Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Thủy (đoàn Bắc Kạn) cũng quan tâm đến nội dung đất ở, đất sản xuất cho bà con vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Thủy.
Dự thảo Luật hiện nay đã bổ sung nhiều chính sách mới về đất đai đối với đồng bào dân tộc thiểu số, so với dự thảo trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ 5 đã quy định rõ hơn 4 nội dung: đối tượng được hỗ trợ; địa bàn được hỗ trợ; chính sách để hỗ trợ và trách nhiệm thực hiện từ Chính phủ đến HĐND và UBND các cấp.
Tuy nhiên, theo Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Thủy, về đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ theo quy định tại Điều 16 dự thảo Luật thì cá nhân là người dân tộc thiểu số, tuy thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo nhưng không sinh sống ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Tức là ngoài phạm vi 3.434 xã đã được phân định thuộc vùng này sẽ không được hưởng chính sách hỗ trợ đối với đồng bào theo quy định tại Điều 16. Trong khi đó, Nghị quyết số 18 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XIII về đất đai không đặt vấn đề về phân biệt địa bàn đối với đồng bào dân tộc thiểu số. Vì vậy, nữ Đại biểu Quốc hội đề nghị tiếp tục nghiên cứu kỹ vấn đề này để thể chế hóa đúng, đủ tinh thần Nghị quyết của Trung ương.
Về việc thừa kế, tặng, cho, chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Điều 48, Đại biểu Nguyễn Thị Thuỷ cho rằng, dự thảo Luật quy định đối với người đã được hỗ trợ đất lần 2 chỉ được phép để lại thừa kế, tặng, cho, chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với người thuộc hàng thừa kế và người này phải có hoàn cảnh giống mình, tức là cũng phải là người dân tộc thiểu số thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo và phải được hỗ trợ đất lần đầu nhưng đến nay không còn đất hoặc thiếu đất so với hạn mức.
Ảnh minh họa.
Theo Đại biểu Nguyễn Thị Thuỷ, việc thiết kế chính sách như vậy nhằm bảo toàn quỹ đất để thực hiện tốt hơn chính sách hỗ trợ đất đai cho đồng bào dân tộc thiểu số, ý tưởng rất tốt nhưng đề nghị cần cân nhắc tính khả thi của quy định này.
Nêu cụ thể trường hợp được người hỗ trợ đất theo trường hợp nêu trên, sau khi được hỗ trợ đất, người này sinh con và sinh sống cùng với cả gia đình trên mảnh đất này cho đến khi người đó mất và mảnh đất này là nơi ăn chốn ở của cả gia đình và là nơi thờ tự tổ tiên theo truyền thống của người Việt. Sau khi người này mất, các thành viên trong gia đình không thuộc trường hợp tại khoản 3 Điều 16, mảnh đất đã gắn bó cả đời với gia đình của họ sẽ bị Nhà nước thu hồi theo chính sách này. Do đó, Đại biểu Nguyễn Thị Thuỷ bày tỏ băn khoăn đối với việc thực thi chính sách này, nếu thực thi chính sách thu hồi như thế, vậy có thể làm phát sinh vấn đề mới về xã hội và có thể làm phát sinh khiếu nại, khiếu kiện mà chúng ta đang cố gắng sửa Luật Đất đai để giải quyết vấn đề này hay không. Do đó, Đại biểu Nguyễn Thị Thuỷ đề nghị các cơ quan cần đánh giá kỹ hơn về tác động của vấn đề này.
Nhằm thực hiện Nghị quyết số 120/2020/QH14 ngày 19/6/2020 của Quốc hội về phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030 được đồng bộ, kịp thời, thống nhất và có hiệu quả, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030, giai đoạn I: từ năm 2021 đến năm 2025.
Chương trình chia thành 10 dự án thành phần với các tiểu dự án và mục tiêu cụ thể:
Dự án 1: Giải quyết tình trạng thiếu đất ở, nhà ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt.
Dự án 2: Quy hoạch, sắp xếp, bố trí, ổn định dân cư ở những nơi cần thiết.
Dự án 3: Phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp bền vững, phát huy tiềm năng, thế mạnh của các vùng miền để sản xuất hàng hóa theo chuỗi giá trị.
Dự án 4: Đầu tư cơ sở hạ tầng thiết yếu, phục vụ sản xuất, đời sống trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi và các đơn vị sự nghiệp công lập của lĩnh vực dân tộc.
Dự án 5: Phát triển giáo dục đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Dự án 6: Bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số gắn với phát triển du lịch.
Dự án 7: Chăm sóc sức khỏe Nhân dân, nâng cao thể trạng, tầm vóc người dân tộc thiểu số; phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em.
Dự án 8: Thực hiện bình đẳng giới và giải quyết những vấn đề cấp thiết đối với phụ nữ và trẻ em.
Dự án 9: Đầu tư phát triển nhóm dân tộc thiểu số rất ít người và nhóm dân tộc còn nhiều khó khăn.
Dự án 10: Truyền thông, tuyên truyền, vận động trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Kiểm tra, giám sát đánh giá việc tổ chức thực hiện Chương trình.